Em đi trẩy hội non sông

Tác giả: Đào Dục Tú

KD: Rất cảm ơn anh Đào Dục Tú. Nói như anh, là bài này để cân bằng âm dương cho … chữ, sau mấy ngày toàn bài động trời về tham nhũng. Thì cái việc hội xuân, việc trảy hội, dù còn nhiều chuyện phải bàn, cũng đánh thức được cái hồn người Việt “mơ về nơi xa lắm” chăng?  😀 

Em mặc yếm thắm-Em thắt lụa hồng –Em đi trẩy hội non sông. . .” Đôi ba câu thơ ấy trong thi phẩm nổi tiếng “Bên kia sông Đuống” của thi sĩ Hoàng Cầm cũng đủ để lớp người cao tuổi “nhân thất thập tâm sinh ấu tuế” ưa hoài cổ, ngồi mơ về “những ngày xưa thân ái” tuổi thơ, lon xon theo chân bà, chân  mẹ, chân chị đi chợ,đi chùa, đi chơi  hội xuân làng mình ,làng người.Những bức tranh quê xưa có bao giờ vắng bóng thân nhân thủa nảo thủa nào  còn mặc áo nâu sồng,còn mang yếm vải sồi ; yếm\ thắm đủ mầu chỉ để xếp trong hòm hay trong tay nải, chờ ngày xuân đi hội.

“Liền chị” Thanh Quý- Nguồn: Trên mạng

Chao ôi cái yếm ! Một  mảnh  vải nhuộm nâu sơ sài;hai dải trên buộc cổ .hai dải dưới buộc tấm lưng ong,che chắn,  nâng đỡ, bảo trọng phần thanh tân hiển lộ nhất của người con gái Việt,người phụ nữ Việt.Theo nhà phê bình văn học  hải ngoại Đặng Tiến, “yếm” trong ngôn ngữ Việt có thể xuất xứ từ  “yểm” gốc Hán-nghĩa  che chắn bảo vệ, biến âm mà thành .

Dù cái yếm gắn liền với việc ăn mặc thường nhật của con người ở làng quê đời nào phần đông cũng thường nhiều lam lũ vất vả,ít khi an lạc thanh bình ;song có lẽ nó  là biểu trưng cho vẻ đẹp giầu sức sống và giầu mỹ cảm nên thơ nhất kéo dài  dễ tới hàng nghìn năm phong kiến trung cổ, nên cái yếm thuộc trong số vật thể văn minh Việt in sâu trong tâm cảm người mình chăng ? .

Sức cảm hóa “đáng sợ” của nó khiến người ta liên tưởng đến “chuyện thực như đùa”: “Ba cô đội gạo lên chùa –Một cô yếm thắm bỏ bùa cho sư-Sư về sư ốm tương tư-Ốm lăn ốm lóc cho sư trọc đầu . . .”,khiến người ta liên tưởng đến hình ảnh cô Thị Mầu chao chát trên sân khấu chèo, nổi đình đám lẳng lơ náo loạn cửa chùa : ” Cái gió xuân nó đánh thốc  yếm đào-Anh trông thấy oản sao anh chẳng vào thăp hương. . .”. 

Và dù thế kỷ 20 bão táp chiến tranh cùng những lớp sóng phế hưng chấn động địa cầu có xô dạt người Việt đi tìm đất hứa nơi  góc biển  chân trời  đi nữa,thì họ trước sau vẫn không nguôi nhớ về “dặng tre xưa muôn tuổi vẫn xanh rì” (thơ Du Tử Lê). Trong tập ” Nửa khuya giấy trắng”,Trần Hồng Châu định cư ở Mỹ, hồi nhớ ” Em là con gái mười thương-Yếm đào một dải mấy dường nhỏ thon” .Lại chợt nhớ  anh trai làng trong thơ Nguyễn Bính đã trách  người tình :” Hôm qua em đi tỉnh về-Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều” bởi em không còn mặc cái yếm lụa sồi chân quê nữa : “Áo cài khuy bấm em làm khổ tôi –Nào đâu cái yếm lụa sồi . . . “.

Vậy là chí ít , cái yếm đã vào thơ Việt  hiện đại từ những năm 30 thế kỷ trước . Còn ca dao thì chắc chắn cổ hơn, lùi xa hơn xa hơn “thơ mới” vài trăm năm,có lẽ từ thủa tiếng Việt mới thuần thục thuần thành vào thế kỷ 18 chăng nên mới  xuất hiện những câu lục bát nuột nà , ví như”Ước gì sông rộng một gang –Bắc cầu dải yếm cho chàng sang chơi”. Cái yếm như một ám ảnh trong ký ức văn nhân tài tử, yếm “Gợn xuân tình trên bộ ngực thanh tân”(Thơ Đinh Hùng), yếm  trở thành biểu tượng cho vẻ đẹp thiếu nữ,thành mỹ cảm hết sức nên thơ của thi ca nhạc họa.

Xin lựa ra một đoạn văn bình giải của cây bút Lam Điền viết về cái yếm ” Ở chừng mực nào đó chiếc yếm  thể hiện được bản sắc văn minh Việt Nam,kín đáo đạo đức nhưng cũng rất gợi cảm.Đối với cô gái trẻ ,chiếc yếm dùng để che bộ ngực thanh  xuân bát ngát,làm giảm đi tính cách khiêu khích của phái tính nhưng đồng thời vẫn nói lên một thứ ngôn ngữ lãng mạn của niềm tự hào về phái tính.

Đó là những chiếc yếm được may với những mầu sắc tươi đẹp:mầu hồng của hoa đào,mầu xanh lục của lá non,mầu xanh phỉ thúy của ngọc,mầu trắng của bình minh nhan sắc.Chiếc yếm ấy được mặc trong cái áo tứ thân vào những dịp quan trọng.Mùa xuân chiếc yếm thắm tạo mầu sắc tưng bừng trên khắp nẻo đường quê.Những ngày hội làng,những đêm hát chèo,hát bội ,chiếc yếm thắm rộn ràng những cuộc gặp gỡ xôn xao,những xúc động tình yêu và long lanh những lời hò hẹn . . .”

Hiển nhiên bức tranh quê ý vị ,thơ mộng mang vẻ đẹp cổ điển tưởng chừng bất biến ở làng quê Việt thời trung cổ đã dần dần  trở nên mong manh hơn bao giờ hết trước áp  lực của phong hóa phương Tây thời hiện đại,để giờ đây thời hội nhập toàn cầu,có lẽ ở mỗi làng quê chỉ còn các cụ lão bà thượng thượng thọ tám mươi,chín mươi tuổi trời dùng đến yếm !. Dù  yếm thắm  ngày xuân chỉ còn trên sân khấu,chỉ còn thấy ở  những màn trình diễn hội hè thì suy tưởng của biết bao thế hệ người Việt về cái yếm trước hết vẫn là niềm tri ân  trân trọng đối với tiền nhân có công sinh thành dưỡng dục ra mình.

Cảm động quá là hình ảnh người mẹ trẻ tất tả về chợ : ” Đường mòn rộn bước chân về chợ-Vú sữa đầy căng mặt yếm sồi”( Nguyễn Bính). Hình ảnh mẹ ta, dì ta,mợ ta ,chị gái ta ngày xưa đó chứ ai đâu xa lạ !  Với người tuổi đã vượt mốc nhân sinh thất thập có ai không một lần thì thầm với mình lời giản dị rằng: tôi cũng như bao nhiêu người trạc tuổi tôi đã lớn lên từ những giòng sữa ngọt tự nhiên phía sau những chiếc yếm cùng lời ru à ơi “rất đậm vị đời” cay đắng nhọc nhằn của mẹ :”Sữa nuôi phần xác,hát nuôi phần hồn” (Nguyễn Duy).Và những liên tưởng,suy tưởng của người đời có bao giờ bỏ rơi cái yếm, dù họ  thuộc về thế hệ a-còng !.Chợt nhớ câu thơ của nhà thơ chân quê Nguyễn Bính:

                                                Quê hương tôi có những người con gái

                                                Một ngày hai bữa cơm đèn

                                                Cách sông Cái cũng bắc cầu dải yếm

                                                Cho chàng sang đính ước chuyện nhân duyên

Ngày nay thế hệ con cháu ta “trẩy hội non sông” Chùa Hương,Bái Đính,hội Lim Quan họ. . .đương nhiên với một tâm thế rất khác người con gái xưa “bắc cầu dải yếm” đợi người. Song tôi tin những  vẻ đẹp nên thơ của phong vị tinh thần Việt không bao giờ mất trong trái tim mẫn cảm của họ,dù cho vẻ đẹp ấy chỉ là cái yếm tượng trưng đã từng vắt vẻo trên thân hình  người  “muôn năm cũ”  ! . / .