Nên đánh giá Lý Chiêu Hoàng thật khách quan, công tâm

Tác giả: Tiến Hải

KD: Ngày 15 tháng 3 âm lịch hàng năm là ngày hội Đền Đô (nơi thờ 8 vị vua nhà Lý). Bà là người đã từng lên ngôi vương. Thời cuộc với những thăng trầm của chính thể đã khiến số phận vị “vua bà” này gặp không ít sóng gió. Mới đây, nhà báo Tiến Hải có bài viết gửi cho Blog về vị vua thứ 09 của nhà Lý. Xin được đăng tải lên để bạn đọc chia sẻ, trao đổi, suy ngẫm

Cảm ơn nhà báo Tiến Hải.

Quê tôi: Phường Đình Bảng, thị xã Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh. Nơi đây tọa lạc ngôi Đền Đô nổi tiếng, thờ tám vị vua Triều Lý. Biết tôi quê ở Đình Bảng, lại là nhà báo lâu năm và cũng am hiểu về lịch sử, cho nên bạn bè thường hỏi: “Nhà Lý tồn tại 215 năm (1010-1225) với chín vị vua; trong đó vị vua thứ chín (Lý Chiêu Hoàng) là vị vua bà duy nhất của chế độ phong kiến Việt Nam. Bà chẳng có tội lỗi gì, thậm chí còn có công, tại sao lại không được thờ ở Đền Đô?”. Câu hỏi đó thật thú vị và rất cần một lời giải thích thỏa đáng.

Tượng Lý Chiêu Hoàng ở Đền Rồng (Bắc Ninh). Ảnh: Bùi Chính.

Lý Chiêu Hoàng (Chiêu Thánh công chúa) còn có tên là Phật Kim, sinh vào tháng 9 năm Mậu Dần (1218). Bà là con gái thứ hai của vua Lý Huệ Tông và Trần Thị Dung. Lý Huệ Tông vào cuối đời thường hay rượu chè, lại bị lâm bệnh, có lúc gần như điên loạn, không thể cáng đáng nổi việc triều chính. Vào thời Lý Huệ Tông, có một nhân vật nổi tiếng họ Trần tên là Trần Thủ Độ. Ông ta làm quan đến chức Điện tiền chỉ huy sứ, nắm giữ mọi việc về quân sự. Trần Thủ Độ có quyền hành rất lớn, có tài năng, nhưng cũng là con người đầy mưu mô, xảo quyệt.

Từ lâu, Trần Thủ Độ đã có ý đồ lật đổ nhà Lý, đưa nhà Trần lên thay. Lợi dụng tình trạng của Lý Huệ Tông như vậy, ông ta đã ép nhà vua phải từ bỏ ngôi báu để đi tu ở chùa Chân Giáo và xuống chiếu lập Chiêu Thánh làm Hoàng Thái tử rồi nhường ngôi cho con vào tháng 10 năm Giáp Thân (1224). Chiêu Thánh lên ngôi, đổi niên hiệu là Thiên Chương Hữu Đạo. Ngồi ở ngôi báu khi mới 07 tuổi, còn rất non nớt, chưa biết gì, vì vậy thực tế Trần Thủ Độ giữ quyền nhiếp chính.

Thật ra, khi đó trong hoàng tộc nhà Lý vẫn còn những nhân vật kiệt xuất như Lý Long Tường, Lý Quang Bật… nhưng thế lực của các ông này rất mỏng, không đủ sức đối đầu với Trần Thủ Độ. Theo kịch bản đã chuẩn bị sẵn, Thủ Độ đưa Trần Cảnh (cháu họ) vào cung giữ chức Chánh thủ chuyên lo công việc hầu hạ Lý Chiêu Hoàng. Trần Cảnh rất biết giữ lễ vua tôi. Khi nói với Chiêu Hoàng đều “tâu Bệ Hạ” và xưng thần. Trần Cảnh đẹp trai, tư chất thông minh, tính tình rất dễ chịu, nên ngay từ buổi đầu, Chiêu Hoàng đã có cảm tình với Trần Cảnh, thậm chí rất quý mến.

Thấy thời cơ đã đến, Trần Thủ Độ lập tức tiến tới một bước ngoặt quyết định: Thuyết phục (thực chất là ép) Lý Chiêu Hoàng lấy Trần Cảnh và nhường ngôi cho chồng. Thế là ngày 11 tháng 12 năm Ất Dậu (tháng 1-1225) Trần Cảnh chính thức lên ngôi vua lấy hiệu là Trần Thái Tông và lập Lý Chiêu Hoàng làm Hoàng hậu. Để trả công Trần Thủ Độ đã đưa mình lên ngôi vua, Trần Thái Tông phong cho Trần Thủ Độ làm Thái sư (chức quan cao nhất trong triều đình phong kiến lúc bấy giờ). Thế là từ đó, Trần Thủ Độ trở thành nhân vật có quyền lực tuyệt đối đến nỗi vua còn phải gọi là Thượng phụ.

Một góc Đền Đô. Ảnh trên mạng

Mối tình giữa Trần Cảnh và Lý Chiêu Hoàng rất đẹp. Họ rất thương yêu nhau. Nhưng 12 năm chung sống với Trần Cảnh,Chiêu Hoàng (Hoàng hậu Chiêu Thánh) vẫn chưa sinh được một người con nào. Trần Thủ Độ sợ họ Trần tuyệt tự, không có người nối dõi nên đã ép Trần Cảnh phải phế ngôi Hoàng hậu của Chiêu Thánh và lấy Thuận Thiên (chị ruột của Chiêu Thánh) làm vợ, rồi lập làm Hoàng hậu. Lúc này Thuận Thiên đã có chồng và đã có thai ba tháng (chồng của Thuận Thiên là Trần Liễu, anh ruột Trần Cảnh).

Trước sức ép đó, cả Trần Cảnh và Trần Liễu đều phản ứng quyết liệt. Trần Liễu dấy binh nổi loạn nhưng bị dẹp ngay; còn Trần Cảnh bất mãn, bỏ kinh thành, trốn lên chùa Phù Vân ở núi Yên Tử nhưng Trần Thủ Độ cũng đưa quân đến “rước” (thực chất là áp giải) về kinh.
Mất ngôi vua vào năm 1225, một năm sau, Chiêu hoàng lại mất cha cũng do một tay Trần Thủ Độ đạo diễn (Thủ Độ đã ép Lý Huệ Tông phải tự vẫn). Ngay sau khi Huệ Tông chết, Trần Thủ Độ lập tức cưới Trần Thị Dung làm vợ (Thị Dung là vợ vua Lý Huệ Tông, là mẹ đẻ của Thuận Thiên và Chiêu Thánh). Thế là chỉ trong vòng 12 năm từ 1225 đến 1237, Chiêu Hoàng đã phải trải qua những bi kịch quá lớn: Mất ngôi vua, mất cả ngôi hoàng hậu, rồi mất cha và uất hận chứng kiến cuộc hôn nhân đầy tai tiếng của mẹ ruột với kẻ thù. Ôi! hỏi có còn nỗi đau nào lớn hơn thế nữa?

Liên tiếp trải qua những nỗi đau, Chiêu Thánh ẩn mình trong cung sâu, toan dứt nợ trần tục. Nhưng may thay, 20 năm sau, khi tròn 40, tuổi hạnh phúc lại đến với bà. Buộc phải phế ngôi hoàng hậu của Chiêu Thánh, vua Trần Thái Tông rất thương người vợ cũ. Cho nên, đúng vào ngày mùng một Tết năm Mậu Ngọ (1258) sau khi đánh tan quân Nguyên, Vua Thái Tông đặt đại lễ ở chính điện, ban lệnh gả Chiêu Hoàng cho Lê Phụ Trần, một đại tướng có công lớn trong cuộc kháng chiến vừa qua.

Lần này Chiêu Hoàng tìm thấy hạnh phúc thật sự. Bà và Lê Phụ Trần sinh được hai người con. Lê Tông, con đầu còn có tên khác là Lê Phụ Hiền. Lê Tông cũng thông minh, tài giỏi lại được Chiêu Thánh dạy bảo rất tốt nên cũng trở thành một nhân vật xuất chúng. Ông được phong tước Thượng vị hầu, sau đó được ban quốc tính, mang họ Trần và đổi tên là Trần Bình Trọng (sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi là Thượng vị hầu Tông). Chiêu Hoàng và Lê Phụ Trần còn có người con thứ hai là Ngọc Khê, sau cũng được phong là Ứng thụy Công chúa.

Đầu năm 1278, Chiêu Hoàng về thăm lại làng quê xưa (làng Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh – khi đó gọi là làng Cổ Pháp hay làng Báng). Rồi tháng 03 năm đó bà mất, thọ 61 tuổi. Bà không được chôn cùng khu vực của tôn thất nhà Lý, mà phải chịu cảnh đìu hiu một mình ở góc phía Tây khu rừng Báng. Khi đền Đô được xây dựng, bà cũng không được thờ ở đó. Đền chỉ thờ tám vị vua nhà Lý, từ vị vua đầu là Lý Thái Tổ đến vị vua thứ tám là Lý Huệ Tông.

Còn bà, vị vua thứ chín của nhà Lý thì người ta thờ ở ngôi đền có tên là Long miếu điện cũng ở một góc khu rừng Báng trước kia (thường gọi là Đền Rồng). Cả Đền Đô và Đền Rồng đều được xây dựng ở Đình Bảng, nhưng người ta chỉ biết đến Đền Đô, còn Đền Rồng thì hầu như bị lãng quên.

Tại sao Đền Đô không thờ Lý Chiêu Hoàng? Người ta thường đưa ra mấy lý do: Một là, bà đã để nhà Trần cướp ngôi nhà Lý. Hai là, khi bị truất ngôi Hoàng hậu, bà lại tái giá, lấy chồng; như vậy bà không còn là người của tôn thất họ Lý nữa.

Theo tôi, cả hai lý do trên đều thiếu tính thuyết phục; bởi từ vị vua thứ bảy là Lý Cao Tông, nhà Lý đã bắt đầu suy vong. Nhà Lý sụp đổ là tất yếu khách quan. Nếu họ Trần không thay thế thì cũng sẽ có một lực lượng khác thay thế. Vả lại, Lý Chiêu Hoàng không chịu lấy Trần Cảnh và nhường ngôi cho chồng thì nhất định sẽ xảy ra một cuộc đảo chính đẫm máu. Vậy, không nên đổ lỗi cho Lý Chiêu Hoàng. Còn việc bà lấy chồng khác cũng là lẽ thường tình.

Sau khi tái giá, bà đã sinh hạ được một người con xuất chúng mà sử sách còn lưu danh đó là Trần Bình Trọng. Vậy việc bà tái giá sao lại có thể gọi là tội lỗi? Tiến sỹ phật học Thích Đức Thiện cho rằng Lý Chiêu Hoàng không được thờ ở Đền Đô chỉ vì tư tưởng trọng nam khinh nữ của chế độ phong kiến. Quan điểm này được rất nhiều người kể cả các sử gia có tên tuổi đồng tình.

Mỗi lần về quê, tôi đều đến thăm Đền Đô và Đền Rồng. Trong tôi lập tức nảy sinh sự so sánh và cảm thấy buồn đến nao lòng.

Nếu nhận định, đánh giá lịch sử thật khách quan, công tâm thì rất nên đưa Lý Chiêu Hoàng về Đền Đô thờ chung với tám vị vua đã nêu của vương triều Lý./.