Hoài cảm Huế

Tác giả: Đào Dục Tú

KD: Tác giả Đào Dục Tú vừa gửi cho Blog bài tạp văn. Nhưng trước đó, anh có “họa’ lại vài câu về bài “Dịu dàng”  (ngày 02/4) của mình. Xin được đăng nguyên văn:

            Dịu dàng là dịu dàng ơi

            Có sang sông Đuống với tôi tôi chờ

            Tôi chờ từ thuở còn . . . xưa

            Người xa vắng mãi tôi chờ đợi ai

            Lỡ duyên tôi chẳng gặp người       

            Quay về  với . . . chữ thấy lời tri âm.

Không biết giữa cái dịu dàng của sông Đuống với dịu dàng của sông Hương, tác giả sẽ ngả về đâu đây?  😀

Hẳn cả một bài Hoài cảm Huế sẽ cho bạn đọc câu trả lời  😛

Đọc thêm: https://kimdunghn.wordpress.com/category/tu-bach/

————

 “Đây thôn Vĩ Dạ”- một trong những bài thơ nổi tiếng của thi sĩ Hàn Mặc Tử không biết đến sự già nua thời gian sáu, bẩy mươi năm phôi pha thế thái nhân tình. Dường như bao giờ cũng vậy, mỗi khi có dịp trở về với Huế trong tâm tưởng, nỗi hoài cảm đầu tiên của  người “mê đất thần kinh” cộng  hưởngvới mê thơ Hàn là thi phẩm ” Đây thôn Vĩ Dạ”.

Một lẽ giản dị, bài thơ đã nói hộ, đã thác lời những người yêu Huế về xứ Huế mộng mơ nên thơ nên nhạc qua cảnh quan đặc trưng điển hình: Thôn Vĩ ven sông Hương một ngày “nắng tươi trong” rất . . .Huế.

Thơ bắt đầu là một câu hỏi phiếm định thân mật không biết của thi nhân, hay của bạn tình, hay ai đó:” Sao anh không về chơi thôn Vĩ?” Hỏi ai, ai hỏi, hỏi bạn hay hỏi tình nhân, điều đó cũng chẳng có gì đáng lưu tâm nhiều. Hỏi chỉ như là. . . để hỏi thế thôi; như là cái cớ để trả lời về vẻ nên thơ quyến rũ “không thể chối từ” thưởng ngoạn cảnh quan, trùng phùng với người của bất kỳ ai bị/được Huế mê hoặc, hút hồn:

                                      Sao anh không về chơi thôn Vĩ

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên

                                      Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

                                      Lá trúc che ngang mặt chữ điền

Bình minh của ngày “nắng mới lên” ửng sáng hàng cau đặc trưng vườn Huế, khuôn viên Huế; làm nền, hậu cảnh cho vườn ai xanh một mầu ngọc bích rất đời, thực đấy mà như được đất trời xứ Huế ảo hóa thành. . .  đài các, xa vời. Người mẫn cảm  mơ hồ  thấy phong vị, phong thái ấy phảng phất hình hài ở bất cứ đâu trên đất cố đô cổ kính, trong nét khoan hòa mệnh phụ và thanh xuân thiếu nữ, trong tiếng “dạ, thưa” nhẹ tênh chiều Hương Giang. . ..

Ngoài thời điểm  bình minh một ngày “nắng tươi”, đêm trăng dát vàng dát bạc sông Hương cũng là một bối cảnh thơ hết sức điển hình của xứ Huế:

                                      Gió theo lối gió mây đường mây

                                      Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay

                                      Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

                                      Có chở trăng về kịp tối nay ?

Vẻ lặng tờ rất Huế trên “dòng nước buồn thiu” Hương Giang là cái nền, cái phông cho bức tranh siêu thực dệt bằng ánh trăng tràn trề trên bến dưới thuyền nhưng vắng bóng mọi sinh hoạt thế tục. Bến sông trăng, thuyền chở đầy trăng như ảo ảnh giữa thinh không bao la cũng tưởng chỉ có ánh trăng ngập tràn. Vẻ đẹp huyền ảo khởi từ hai câu thơ tượng trưng,trước khi đặt bút viết, hình như thi nhân đã  thấy hiển lộ qua ảo giác:

                                      Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

                                      Có chở trăng về kịp tối nay?

Với thi nhân Hàn Mặc Tử, “mặt nguyệt” như là biểu tượng của tình yêu, của hạnh phúc đã được khúc xạ thăng hoa qua phức cảm của người đeo trọng bệnh nan y thường “điên cuồng”. . . thăng hoa dưới trăng, trong trăng- như hồi ký của nhiều người thân  thi nhân đã kể. Con thuyền trăng ấy đêm nay có chở kịp vầng trăng hạnh phúc vừa gần gụi như đời vừa tột cùng xa xăm, tột đỉnh cao vời như siêu nhiên Đức Mẹ đồng trinh

Không phải tự nhiên thi nhân nhắc tới “em” trong khổ cuối bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ”. Tình yêu, tình nhân với ông, hình như có đấy mà  hư huyền ảo ảnh, không mong tiếp cận:

                             Mơ khách đường xa khách đường xa

                             Áo em trắng quá nhìn không ra

                             Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

                             Ai biết tình ai có đậm đà ?

Hóa ra hình bóng ai đó tưởng “tương cận” qua câu tả thực “Áo em trắng quá” lại chỉ là vết mờ nhân ảnh nhạt nhòa, xa vắng, khói sương. Làm sao biết được tình em hay tình ai có đậm đà chân thực như . . . đời trong bối cảnh siêu thực siêu hình huyền ảo này. Trong sương khói mờ nhân ảnh, bóng hình em trắng trong kia là ai, là ai mà “Áo em trắng quá nhìn không ra”.

Hay chỉ là biểu tượng của Huế, của thơ, của hạnh phúc tình yêu mà suốt cuộc đời lâm trọng bệnh thuộc hàng “tứ chứng nan y” ngắn ngủi đầy khổ ải bất hạnh, thi nhân chỉ khắc khoải khát khao những mơ  nắm bắt được hình hài! Như trăng, như “mặt nguyệt” đã được nhân hóa tuyệt đối, thơ đã vượt qua khung trời lãng mạn bay tới ” đỉnh trời tròn”(chữ Xuân Diệu) mỹ cảm tượng trưng: “Ô kìa bóng nguyệt trần truồng tắm- Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe” ;” Trăng nằm sóng soải trên cành liễu- Đợi gió đông về để lả lơi “. . .

 Mở đầu bài thơ là một câu hỏi phiếm định “Sao anh không về chơi thôn Vĩ? Giữa bài thơ cũng là một câu hỏi phiếm chỉ “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó- Có chở trăng về kịp tối nay?”. Cuối bài vẫn không có gì khác biệt :”Ở đây sương khói mờ nhân ảnh-  Ai biết tình ai có đậm đà ?” Hai đại từ nhân xưng phiếm chỉ “ai” thực ra chỉ là một, không xác định tương quan chủ thể -khách thể.

Dường như cùng với không- thời gian thôn Vĩ, buổi mai và đêm trăng tràn trề thi vị xứ này, tính tượng trưng và phiếm định của thơ trở nên đắc dụng trong việc mở biên vực cảm xúc, biên độ mỹ cảm thơ của người đọc thơ Hàn nhiều thế hệ . Thơ Hàn Mặc Tử trường tồn và dường như “thanh xuân vĩnh viễn” cũng vì lẽ đó chăng?