“Trâu ơi ta bảo trâu này…”

Tác giả: Đào Dục Tú

KD: Cái sự phát hiện của tác giả Đào Dục Tú hẳn sẽ gợi nên cho bạn đọc hoài cảm về một kiếp sinh linh, mà thiếu vắng nó, bỗng đồng ruộng VN như mất phần hồn, dù điều đó cũng nói lên sự phát triển của làng quê.

Nhưng mình vẫn tin, dẫu sao, con trâu yêu quý của đồng quê Việt không bao giờ mất hẳn.

Mình sống ở thành phố nhưng mỗi lần đi công tác, say mê ngắm… nghé, ngắm bê con  😛   Thương ghê lắm, nhìn mãi không chán mắt.  Vì thấy chúng ngây thơ hệt trẻ con.

Cảm ơn anh Đào Dục Tú  😀

.
Chừng đôi ba năm cuối thế kỷ trước, cảnh chiều chiều trên con đê làng tôi có bốn năm đứa trẻ dong trâu đủng đỉnh về, chẳng làm cho ai “yêu quê hương” động lòng ngơ ngẩn. Chiều nào chả vậy. Khi mặt trời đỏ ối chìm dần sau dãy “Ba Vì xanh xanh mờ xa”, chiều bảng lảng khói sương, cũng là giờ các chú nhóc “mục đồng thời hiện đại” dẫn trâu về chuồng. Không lá sen đội đầu ,không vắt vẻo lưng trâu thổi sáo như tranh Đông Hồ mô tả. Có đứa quần sooc lửng cởi trần; có đứa tóc cháy da đen nhẻm, cổ đeo vòng bạc “rất nghệ sĩ”, nách kẹp tranh truyện “đô rê môn”.

Ấy thế mà chỉ sau vài vụ các chú thợ cầy “trai ba mươi tuổi đang xoan” (ca dao) sắm máy cầm tay, gía chào hàng cầy bừa rẻ, lại thêm chuyện ít người để ý là mỗi gia đình chỉ còn dăm bẩy mảnh ruộng khoán manh mún, người làm ruộng quý từng hàng lúa một, nên “bờ vùng còn, bờ thửa không còn”.  Thời xa xưa cánh đồng nào nối dài những chân tre chân trời chả có hàng trăm, thậm chí hàng ngàn bờ ruộng đủ cỏ cho người cắt cỏ nuôi trâu và đủ sức cho con trâu mộng kềnh càng nhẩn nha đi gặm cỏ. Trái lại thời nay, bờ ruộng cho cỏ mọc nuôi trâu quá hiếm hoi, con trâu làng tôi thưa vắng dần, nay xem như tuyệt chủng.

Làng tôi thuộc loại làng “có tiếng” vùng nam phần Bắc Ninh, làng to, thuần nông mà ở thời điểm Tết Giáp Ngọ vừa rồi, có ông lập nghiệp trong Nam quá lâu không về quê cũ, cứ ngẩn ngơ hỏi sao làng ta không thấy con trâu nào nữa nhỉ. Ruộng thì vẫn còn mà con trâu quen thuộc thân thiết với làng quê, với người quê sau hàng nghìn năm hiện diện kéo “nền văn minh lúa nước sông Hồng” đi lên, bỗng chốc mất tích! Chả biết nên vui hay nên buồn. Đành rằng con trâu đi trước cái cầy theo sau đã lỗi thời trong cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Thế nhưng. . .

Hình ảnh con trâu dần dần phai nhạt trong đời sống làng quê vùng ngoại ô “bên kia sông Đuống” , rộng ra là ở hầu khắp vùng châu thổ sông Hồng, cái nôi của nền văn minh lúa nước ” ! Những lớp người gắn bó với “nông thôn cổ điển” vượt qua cái mốc nhân sinh “xưa nay hiếm” đôi lúc không khỏi chạnh lòng tiếc nhớ. Xa xưa thời tôi còn chân đất quần cộc áo vá nón mê dắt trâu ra đồng, làng tôi có đến vài trăm con trâu.

Trâu đực trâu cái trâu to trâu nhỏ, nghé con ngô nghê ngơ ngác lạc mẹ chạy lung tung, thôi thì đủ. . . thể loại trâu, trừ trâu trắng vì theo người làng tôi quan niệm “trâu trắng đến đâu mất mùa tới đó”. Có lẽ do suy diễn giản đơn trắng liên tưởng đến trắng tay, mất trắng chăng ? Con trâu quả là đầu cơ nghiệp. Không có trâu, lấy sức người đâu mà kéo cầy kéo bừa dưới đồng sâu, cấy lúa trên ruộng cạn, trồng khoai ngô đỗ lạc, trong khi mỗi gia đình bình thường cũng có trên mẫu ruộng đủ loại chiêm mầu.

Gia đình tôi xếp hạng “nhỡ nhỡ ương ương” không giầu không nghèo, ” trung nông thường” trong cải cách ruộng đất , cũng có mẫu rưỡi Bắc Bộ, mười lăm sào, quy đổi ra hec-ta –mẫu tây, là hàng vạn mét vuông đất canh tác bốn mùa chứ có ít đâu, có ruộng đồng Chung Số rộng tới ba sào..nên con trâu trở thành “đầu cơ nghiệp” đúng nghĩa.

Thời bấy giờ đối với trẻ con làng quê, con trâu gắn liên thân thiết với mọi nỗi vui buồn thường nhật. Sáng đi cắt cỏ cho trâu ,về ăn vội ăn vàng bát cơm thường là cà ghém mặn “dựng tóc gáy” chan nước mưa, rồi dắt trâu đi chăn thả. Có khi mải mê bắt cua bắt cá , đánh đáo đánh bi đến tận chiều muộn nghe thấy bốt Tây bắn ba phát súng hạ cờ mới đủng đỉnh rủ nhau cưỡi trâu về. Chăn trâu, cắt cỏ, chăm sóc, trông nom cái ” đầu cơ nghiệp “nhà nông của mỗi gia đình nghèo có, giầu có, thường thường bậc trung như gia đình tôi cũng nhiều, chính là “lũ nhóc”.

Nhà giầu thì một con trâu đực to béo nghênh ngang dữ tướng cực kỳ, sức kéo của dăm, bẩy mẫu, có khi hàng chục mẫu ruộng đẳng điền. Nhà nghèo hai nhà chung mua một con, thường là trâu ghẻ dặt dẹo, kéo bừa ruộng cạn mà vươn cổ như lạc đà. Lũ trẻ chăn trâu làng tôi thời đó thương trâu lắm. Mỗi lần cha tôi dắt trâu đi chợ Sa ,chợ Giầu bán hay đổi chác cho nhà khác lấy ít tiền lãi dôi ra để xây tường gạch thay tường đất, hay bó vỉa, xây sân chẳng hạn, tôi đều nằm vùi “nước mắt chứa chan” , bỏ ăn vài bữa là chuyện thường.

Mùa xuân trâu thả cỏ cánh đồng một vụ làng mình chạy sang làng khác, rộng mênh mông, cỏ chông cỏ bắp xanh mỡ màng. Đau nhất là trâu nhà bị trâu người đánh,vết sừng nhọn rớm máu trên đầu trên mông trâu. Về nhà cứ thấy bố mẹ là cơn tủi hờn nổi lên, hai mắt đỏ như cá chầy chỉ chực mếu máo. Cha tôi lúc bấy giờ chỉ lấy một ít mỡ lợn trộn với diêm sinh bôi vào vết sước trên mình trâu, an ủi tôi: ” Vài ba hôm là nó khỏi thôi mà”. Sang xuân nông nhàn, có non đầy đồng, cỏ chông, cỏ bún, cỏ bắp, cỏ đầu ruồi, đặc biệt là loài cỏ mật để khô trong túi áo tỏa hương thoảng mùi xôi nếp cái hoa vàng. .. Tự nhiên nhớ “Mai Châu mùa em thơm nếp xôi” của thi sĩ Quang Dũng.

Trâu ăn no tắm mát, nằm nhai lại trên đê, bọt mép có lúc sùi ra trắng xóa như cục bông xốp. Lúc bấy giờ tôi thường tha thẩn nhổ từng đám cỏ tía, từng đốt từng đốt mầu tía sẫm bò lan, rủ xuống chân đê, ngồi bón từng nắm từng nắm cho “chú trâu nhà mình” rồi vuốt ve lưng trâu, mặt trâu, nhỏ nhẹ chuyện trò với trâu như với một người bạn hiền ngô nghê và ngộ nghĩnh. Thiên hạ đi chợ qua đường, thấy có ai khen: “Con trâu nhà này đẹp quá” là mình thấy như mở cờ trong bụng, như “có con chim nào trong tóc hót chơi” (Tỗ Hữu) . . .


Đấy cũng là thời hình ảnh mục đồng trở thành một trong những biểu tượng của làng quê Việt “giầu chất thơ”. Ai ly hương, tha hương ví như anh Khóa trong thơ cụ Á Nam Trần Tuấn Khải, cũng nhớ quay quắt. Chợt liên tưởng đến văn phẩm tuyệt hay “Thương nhớ mười hai”, nhớ quê hương đất Bắc Kỳ của nhà văn sáng danh Vũ Bằng, có đoạn nói thời di cư theo Chúa vào Nam, các cô các bà luống tuổi trông thấy trời mưa bong bóng phập phồng cũng nhớ ngoài ấy, bảo nhau “thôi chị đừng nói nữa tôi khóc bây giờ . . “. Lại chợt nhớ. . . thêm câu thơ ý vị của nhà thơ Nguyễn Duy : “Có gì lạ quá đi thôi- Ở gần thì mất xa xôi lại còn” . . .

Làng quê Việt xưa đâu chỉ chỉ có con trâu với trẻ mục đồng, dù rằng hình ảnh đó là một “thành tố” đáng yêu nhất của bốn biểu tượng “ngư tiều canh mục” – ông chài, người gánh củi, nông phu đi cầy, trẻ cưỡi trâu thả diều hay thổi sáo. Còn biết bao nhiêu là hình ảnh khác nữa cũng đã thành biểu tượng quen thuộc như cây đa bến nước, sân đình, như mái đình rêu phong cổ kính “đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu”. Và đương nhiên là không thể thiếu “rặng tre xưa muôn tuổi vẫn xanh rì” (thơ Du Tử Lê).

Thời hiện đại, người làng tôi được rất nhiều cái ” được”. Đáng kể nhất là số đông có bát ăn bát để, chẳng còn ai lo thiếu ăn rách mặc, tháng ba ngày tám rau cháo như thời “bao cấp chót vót”, “bao cấp toàn diện”, “Ta đứng đây mắt nhìn bốn hướng –Trông Bắc trông Nam trông cả địa cầu” trên đỉnh cao muôn trượng, mà gần như năm nào lãnh đạo cũng vác rá đi vay anh cả , anh hai, anh ba , anh bốn XHCN. Thứ nữa là tiện nghi sinh hoạt của dân làng hiện đại văn minh, trông thấy xe máy, tủ lạnh… chuyện thường, chuyện nhỏ .

 

Ti-vi mầu “màn hình tinh thể lỏng” mỏng như . . .lá lúa, rộng bằng nửa chiếc chiếu hoa cũng không còn là mơ ước quá xa vời của nhiều gia đình thuộc diện doanh nhân của xã, hay có con cái “học hành thành tài” ăn nên làm ra đi nước ngoài nước trong như đi chợ ! Được đời sống vật chất trước mắt là được vậy. Nhưng. . .(lại nhưng) tôi vẫn thấy trong bối cảnh đồng tiền lên ngôi, ” thị trường hóa lối sống thực dụng” thành một vấn nạn, người làng tôi mất nhiều quá. Toàn những cái mất vô ảnh vô hình song lại chính là dưỡng chất tinh thần nuôi sống con người cho ra . . .người cao quý, đáng nể trọng hơn trong mắt . . .người làng.

Cái mất ấy, như tình làng nghĩa xóm cảm thấy mỗi ngày một nhạt phai đi, như họ hàng ruột thịt ít phần tương giao thân thiết, nhiều phần bằng mặt chẳng bằng lòng, có khi chỉ đơn giản vì “dâu dữ mất họ, chó dữ mất láng giềng”. Lại như máu chẩy ruột mềm anh em chị em khúc trên khúc dưới cũng chỉ vì tiền bạc ,đất cát chẳng những rơi vào tình cảnh sinh ly tử biệt, mà có khi còn mang nhau ra trước cửa công tranh chấp kiện tụng, mất tình mất nghĩa chẳng nhìn mặt nhau. Thậm chí coi nhau như kẻ thù “sống để bụng chết mang đi” không sao hòa giải hòa hợp được nữa ! . . .

Đấy là chưa nói tới cái mất không thể quy đổi ra tiền ,không thể cân đong đo đếm ra đất ra cát ra xi măng sắt thép. Còn đâu nhịp điệu sống khoan hòa êm ả thanh bình từ trong tâm cảm con người làng quê tỏa ra. Lại nhớ đến cổng nhà hàng xóm có ba chữ Hán đắp nổi “vãng lai nhàn”, tiền nhân gia chủ mong ai qua cổng nhà tôi đều có được sự nhàn trong tâm, “tâm an mao ốc ổn” tâm yên thì ở nhà tranh cũng sướng, cũng thanh thản tâm hồn, tâm không rơi vào động loạn !

Tâm không “an” thì tâm . . .loạn. Biết bao nhiêu đại ca đại gia mấy chục năm nay xe hơi nhà lầu lên voi xuống . . .ngụa mà biệt thự dát vàng cũng chỉ còn là sinh phần (mộ người còn sống), chờ “ngày phán xử cuối cùng ” đó thôi

Trở lại với con trâu đầu cơ nghiệp thời xưa của nông gia cơ bản. Trâu ơi ta bảo trâu này. . . . Dù rằng làng ta làng người mày đã vắng bóng thật rồi thì ta vẫn tìm thấy trâu trong trang văn “con trâu” của Trần Tiêu- thời Tự lực Văn đoàn; trong thi ca nhạc họa và ký ức tuổi thơ không bao giờ mất . / .