Ký ức phương Nam

Tác giả: Tiến Hải

KD: Nhà báo Tiến Hải vừa gửi cho mình bài viết này. Như một hồi ức đẹp trong ông, dù 39 năm đã trôi qua, từ lúc mới chỉ là một nhà báo trẻ mới 30, nay đã là một cựu Phó TBT một tờ tạp chí. Khi mà ngày lịch sử thống nhất đất nước 30/4 sắp đến gần.

Cảm ơn nhà báo Tiến Hải

Sau ngày 30-4-1975, các cơ quan thông tấn, báo chí miền Bắc ồ ạt tiến về phương Nam để phối hợp với các cơ quan thống tấn, báo chí của ta có sẵn ở trong đó phản ánh tình hình nóng hổi của miền Nam sau ngày giải phóng. Cơ quan chúng tôi không phải là nhật báo, cũng không phải là tuần báo, mà là tạp chí ra hàng tháng nhưng cũng nhanh chóng tham gia vào đội quân này.

Dáng phương Nam. Ảnh: tạp chi.guu.vn

Thế là ngay từ đầu tháng 6 năm 1975, Ban Biên tập đã cử đoàn cán bộ 05 người (bao gồm cả lái xe) do một đồng chí Phó TBT dẫn đầu tiến thẳng vô Nam. Trong đoàn, không kể lái xe thì tôi là người trẻ nhất. Nhiệm vụ của chúng tôi là nghiên cứu, khảo sát thực tế mọi mặt của miền Nam sau ngày giải phóng và viết 04 bài về bốn địa phương để đăng trên Tạp chí.

Vừa mới có quyết định, bạn bè, đồng nghiệp đã bắt tay chúc mừng. Họ nói đùa: Cậu là một trong những người đầu tiên của cơ quan được đi “nước” TBCN. Thú thật, hồi đó tôi đã hơn 30 tuổi và đã làm báo cả chục năm trời nhưng vẫn chưa được đi nước ngoài một lần nào. Vì thế các nước XHCN và TBCN nó tròn hay méo tôi cũng không hay.

Lịch trình của chúng tôi là, đoạn đường từ Hà Nội vào đến Vĩnh Linh, chúng tôi chỉ ngủ nhờ một đêm ở nhà khách của địa phương, nơi chúng tôi dừng chân, rồi sáng sớm hôm sau lại lên đường đi tiếp. Còn đoạn từ cầu Hiền Lương vào đến Sài Gòn thì xe đến tỉnh nào, chúng tôi đều dừng lại ở đó vài ba ngày vừa để lấy lại sức trong một chuyến đi dài, vừa để nghiên cứu, khảo sát thực tế của địa phương và tranh thủ tham quan đôi chút.

Miền Nam là một phần của nước Việt, vì thế đương nhiên không thể gọi là “nước” TBCN. Nhưng trước ngày 30-4-1975, miền Nam nằm dưới sự cai trị của chính quyền Sài Gòn và sự bảo hộ trực tiếp của Mỹ nên miền Nam nói chung và hòn ngọc Viễn Đông (Sài Gòn) nói riêng thì dấu ấn của CNTB đậm đặc lắm. Hàng hóa tràn ngập các chợ và các phố phường, toàn made in Japan, france hoặc USA…

Các nhà hàng ẩm thực mở thâu đêm, Tây có, Tàu có và có cả ẩm thực đặc sắc của ba miền nước Việt. Vào đến miền Nam tôi mới được biết thế nào là mỳ ăn liền nhãn hiệu hai tôm, ba tôm, hai cua, ba cua; thế nào là bánh phồng tôm; thế nào là cua lột, sò huyết…Ngay cả cái món đơn giản nhất là phở bò cũng đủ loại. Một hôm chúng tôi vào quán phở bò ăn sáng và gọi 04 tô bò tái. Chủ quán lịch sự hỏi: “Quý khách dùng tái gì ạ; tái gầu, tái nạm, tái lăn, tái huyết hay tái sữa?”.

Sài Gòn trước năm 1975. Nguồn: ptlambao.blogspot.com

Cậu lái xe nhanh nhảu trả lời: “tái thường”. Ông chủ quán nghệt mặt. Tôi biết ngay là ông ấy không hiểu, nên giải thích: “tái thường là ông lấy thịt bò sống nhúng qua vào nước dùng (trong này gọi là nước lèo) thật nóng cho nó tai tái là được; đừng nhúng lâu quá, nó lại thành bò chín”. Khi đó ông ấy mới hiểu. Phải nói thêm, cái món phở đặc sản của miền Bắc là “phở không người lái” thì ở miền Nam có… bói cũng chẳng ra.

Trong thời gian ở Sài Gòn, chúng tôi làm việc với Ban Tuyên huấn Trung ương cục miền Nam. Sau khi nghe chúng tôi trình bày nội dung và mục đích chuyến đi, các anh ấy gợi ý 04 địa phương chúng tôi nên viết là Sài Gòn, Bến Tre, Tiền Giang và Cà Mau. Anh trưởng đoàn chịu trách nhiệm viết bài về Sài Gòn. Còn tôi trẻ nhất thì được phân công đi và viết bài về mảnh đất tận cùng Tổ quốc.

Vào đến thị xã Cà Mau, tôi hơi ngỡ ngàng một chút. Cái thị xã nhỏ bé thuộc vùng sâu, vùng xa của đất phương Nam này mà hàng hóa tư bản cũng tràn ngập. Các nhà hàng, cửa hiệu lập lòe đèn đỏ, đèn xanh với những tên gọi “Quán Trầm”, “Quán Cô đơn”, “Quán Chiều ly biệt”…

Tôi tìm đến trụ sở tỉnh ủy. Rất may gặp được anh Chánh văn phòng Sáu Khoai. Sau khi xem xong giấy giới thiệu, anh rất vui, rồi lập tức dẫn tôi sang nhà khách tỉnh ủy. Tại đây, anh Chủ nhiệm nhà khách còn vui mừng hơn. Anh bố trí cho tôi ở một phòng sang nhất của nhà khách có cái tên nghe rất lạ: “Khách sạn Bồng Lai”. Tôi hỏi: “Sao nhà khách tỉnh ủy lại có cái tên lạ thế?”. Anh bảo: “chúng tôi chưa kịp thay tên mới”.

Hóa ra đây là một khách sạn tư nhân, chủ của nó đã di tản sang Mỹ. Tôi cảm ơn anh Chánh văn phòng và Chủ nhiệm nhà khách vì sự đón tiếp tận tình, chu đáo. Các anh khiêm tốn trả lời: “Đây là trách nhiệm của chúng tôi. Thường vụ tỉnh ủy đã có chỉ thị khách ở A (miền Bắc) vào phải đón tiếp thật chu đáo”. Nghe vậy, tôi lại càng xúc động hơn và nghĩ ngay rằng công việc của tôi sẽ thuận buồm xuôi gió.

Tiếp tôi trong bữa tiệc tối gồm có: anh Bảy Nông, Bí thư tỉnh ủy; anh Tư Vân, Ủy viên Ban thường vụ, Trưởng Ban Tuyên huấn; anh Sáu Khoai, Chánh Văn phòng và Chủ nhiệm nhà khách. Sau mấy lời giới thiệu, trao đổi và thăm hỏi xã giao, các anh thống nhất gọi tôi thân mật là Ba Hải vì tôi là con thứ hai trong gia đình. Anh Bảy Nông và Tư Vân đều nhiều tuổi hơn tôi, nên các anh ấy còn gọi tôi là em xưng anh. Anh Bảy Nông nói: “Anh đã nghe Sáu Khoai báo cáo. Em cứ yên tâm. Tư Vân sẽ làm việc trực tiếp với em. Sáu khoai sẽ cung cấp cho em những tài liệu cần thiết và bố trí phương tiện đưa em đi thâm nhập thực tế”.

Tôi quyết định ở lại Cà Mau một tuần lễ. Ba ngày đầu đi thực tế. Bốn ngày cuối làm việc với tỉnh ủy, đọc tài liệu và hoàn tất việc viết bài để anh Bảy Nông thông qua vì bài viết sẽ đứng tên anh ấy.
Buổi đi thực tế đầu tiên của tôi là tới huyện Năm Căn; xuống tới xã tận cùng của đất mũi là xã Viên An. Trên chiếc xuồng máy chở tôi, ngoài người lái còn có hai chiến sĩ đội mũ tai bèo, đeo súng AK. Tôi cũng được phát chiếc mũ tai bèo và khẩu súng ngắn. Thú thật, tôi vui đến ngây ngất vì cảm thấy mình oai và quan trọng quá. Lần đầu tiên tôi được đeo súng ngắn, lại có tới hai chiến sỹ đi theo bảo vệ.

Sau buổi làm việc với anh Tư Vân và sau khi thu thập đầy đủ tài liệu, tôi bắt tay vào viết. Tiện đây tôi tiết lộ một bí mật và đó cũng là kỷ niệm ngọt ngào trong suốt cuộc đời làm báo của tôi. Đó là những ngày ở Cà Mau, Văn phòng tỉnh ủy phân công một cô gái phục vụ tôi. Cô ấy trẻ đẹp, có mái tóc đen, dài, đôi mắt thoáng buồn và gợi cảm. Đặc biệt, nước da của cô ấy trắng hồng (không hiểu sao con gái miền Nam lại có nước da trắng đến thế).

Cô tự giới thiệu tên là út Th cán bộ văn thư của Văn phòng tỉnh ủy. Cô biết tên tôi và cũng gọi tôi thân mật là anh Ba. Nhiệm vụ của cô là dọn phòng cho tôi hàng ngày; chuẩn bị bữa ăn sáng và tối đến, khi tôi đọc tài liệu hoặc viết bài, cô thường mang cho tôi tách cà phê kèm với ổ bánh mỳ, vài cái bánh ngọt hoặc mấy quả chuối nướng (đặc sản của vùng đất mũi mà tôi rất thích). Cũng có khi cô mang cho tôi bát hủ tiếu, bát cháo nóng…

Giọng nói của cô nhỏ nhẹ và mỗi khi tôi nhờ việc gì cô đều “dạ” nghe rất dễ thương. Chúng tôi xưng hô với nhau là anh – em rất tình cảm. Với linh tính rất nhạy cảm của một người con trai xứ Kinh Bắc và sự sắc sảo, nhạy bén của một nhà báo vốn là chàng sinh viên khoa văn trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, tôi biết ngay rằng em đã thích tôi. Nếu nói rằng chỉ có em thích tôi thì thật không công bằng một chút nào. Tôi cũng rất thích em (mặc dù khi đó tôi đã có vợ con). Nhưng mọi thứ, cả hai chúng tôi đều biết dừng lại ở giới hạn cần thiết. Thế là đủ.

Hôm hoàn tất bài viết, em đánh máy cho tôi. Không ngờ em đánh máy giỏi đến thế, chẳng mắc một lỗi nhỏ, cũng chẳng thừa, chẳng thiếu, chẳng sai một chữ nào và trình bày rất đẹp. Bài viết có cái title: “Trên mảnh đất tận cùng Tổ quốc” đứng tên tác giả là anh Bảy Nông. Khi đưa Ban Thường vụ và anh Bảy Nông thông qua, các anh ấy rất phấn khởi. Anh Bảy Nông thân mật nói: “Ba Hải viết thì bọn anh rất tin tưởng”.

Buổi tối trước hôm chia tay, út Th đến phòng tôi. Em tặng tôi một chiếc áo phông màu mỡ gà rất đẹp. Em bắt tôi mặc thử. Tôi mặc rất vừa. Em khen: “Đẹp trai quá”. Tôi nói đùa: “Em khen anh đẹp trai thì có khác nào khen Trung Quốc đông dân”. Em cười bẽn lẽn. Chắc là do linh tính mách bảo, tôi cũng chuẩn bị sẵn một món quà nhỏ tặng em làm kỷ niệm. Em vui lắm.

Sáng hôm sau, tôi trở lại Sài Gòn. Đến chia tay tôi vẫn là những gương mặt quen thuộc: Anh Bảy Nông, Tư Vân, Sáu khoai, anh Chủ nhiệm nhà khách và có cả út Th. Tôi bịn rịn ôm từng người. Riêng út Th thì tôi chỉ bắt tay; nhưng khi đó tôi thấy mắt em ngấn lệ.

Sau này, nhất là khi làm Phó Tổng biên tập phụ trách các cơ quan thường trú của Tạp chí ở phía Nam, tôi cũng đã có mấy lần trở lại vùng đất mũi. Mỗi khi về đây, tôi đều hỏi thăm các anh Bảy Nông, Tư Vân, Sáu Khoai…Các anh lãnh đạo của tỉnh đều biết họ. Riêng út Th tôi không dám hỏi thăm vì mấy lẽ. Thứ nhất, sợ các anh ấy hiểu lầm, nghĩ rằng thời đó chắc đã có một “chuyện tình đất mũi”. Thứ hai, hồi đó út Th chỉ là một nhân viên văn phòng bình thường, chắc gì các anh ấy đã biết. Thứ ba, có lẽ bây giờ em đang có một cuộc sống gia đình yên ấm; gặp nhau sợ ký ức cũ ùa về làm xáo trộn cuộc sống của em

Và cứ thế, những kỷ niệm đẹp thời xa xưa ấy trên đất phương Nam vẫn đọng lại mãi trong tôi./.