Những ngày cuối cùng của Sài Gòn (phần 2)

Tác giả: Winfried Scharlau (Phan Ba dịch)

Trong khi giới nhà báo tranh luận về các lựa chọn, ở lại Sài Gòn và trải qua lần quân đội Việt Cộng tiến quân vào, hay để cho chở đi bằng máy bay và chấm dứt nhiệm vụ của họ ở Việt Nam với câu chuyện di tản, thì các nhà ngoại giao của đại sứ quán Mỹ hy vọng có thể tránh được cuộc di tản như là một kết cuộc nhục nhã, giống như bỏ chạy. Thông tin từ hai nguồn đến với Graham Martin sếp của đại sứ quán Mỹ, gợi lên ý nghĩ phía cộng sản sẵn sàng đàm phán: từ nhóm Hungary của ICCS, Ủy ban Kiểm soát Quốc tế, và từ đại sứ quán Pháp.

Tháng Tư 1975, người dân chạy nạn về Sài Gòn. Hình:  Nik Wheeler/CORBIS

Chính sếp CIA ở Sài Gòn đã tự mình bắt liên lạc với các sĩ quan Hungary. Thomas Polgar xuất thân từ một gia đình Hungary đã di cư sang Mỹ. Từ người đồng hương sang người đồng hương, người ta tin cậy thông báo rằng Hà Nội quan tâm tới một “giải pháp Lào”, để tránh một trận chiến trên đường phố ở Sài Gòn. “Giải pháp Lào”, đó là một chính phủ trung lập, bao gồm các nhân vật của “lực lượng thứ ba”, phe đối lập yếu ớt và bị coi thường cả một thời gian dài ở Sài Gòn, và tất nhiên là với sự hỗ trợ về ngoại giao của Liên bang Xô viết, Pháp và Liên hiệp Anh.

Nguồn thứ hai, dường như xác nhận các thông tin của người sếp CIA, bắt nguồn từ đại sứ quán Pháp – mà trong đó Jean-Marie Merillon, trong tinh thần của de Gaulle, đã tự mình tin rằng “Grande Nation” thêm lần nữa sẽ nhận được một vai trò lịch sử trong khoảnh khắc chiến bại của Mỹ. Merillon thông báo cho đại sứ quán Mỹ và một nhóm nhỏ các nhà báo, mà tiêu chuẩn của họ là có khả năng sử dụng tiếng Pháp một cách thanh lịch, rằng người cộng sản thông qua tiếp xúc với người Pháp đã đưa ra “giải pháp Lào”: tước quyền “bè lũ Thiệu”, thành lập một chính quyền trung lập, muốn hòa bình, dưới quyền “Big Minh” và ngưng chiến trước cửa ngõ Sài Gòn, để tạo cơ hội cho một hội nghị bốn bên bàn thảo một trật tự chính trị mới ở Nam Việt Nam.

Vòng vây bao quanh Sài Gòn càng siết chặt lại bao nhiêu thì các cố gắng đàm phán ngừng bắn của các chính trị gia và nhà ngoại giao càng tuyệt vọng bấy nhiêu. Vào ngày 26 tháng Tư, buổi chiều lúc ba giờ, Thiệu rời Sài Gòn tới Đài Loan. Kể từ lúc từ chức, ông cần năm ngày để xếp đồ đạc vào va li. Người dân Sài Gòn có một tưởng tượng thật chính xác về những gì đã được đóng vào trong đó.

Đài phát thanh của Mặt trận Giải Phóng từ chối lời đề nghị ngừng bắn của phó tổng thống Trần Văn Hương. Hương đại diện cho một “chế độ Thiệu không có Thiệu”. Một chính phủ trung lập phải được thành lập và dẫn đầu bởi “một nhân vật thật sự yêu chuộng hòa bình”. Và quân nhân Mỹ, hơn 5000 người, phần lớn là sĩ quan trong bộ tham mưu của DAO, Defense Attache’s Office hay cũng được gọi là “Lầu Năm Góc phương Đông”, phải rời đất nước này, như là điều kiện tiên quyết.

Vào ngày 26 tháng Tư, một ngày thứ bảy, vào cái ngày mà Thiệu rời bỏ đất nước, Quốc Hội đã họp trong một ngôi nhà tối tăm hôi mốc ở khu cảng, để nhất trí ủy quyền cho phó tổng thống Hương tự chọn một người kế nhiệm theo ý muốn của ông, không cần quan tâm tới các quy định của hiến pháp Nam Việt Nam. Trần Văn Lắm, chủ tịch thượng viện, theo hiến pháp lẽ ra là người kế đến. Nhưng là “người của Thiệu” thì ông không có cơ hội được phía cộng sản chấp nhận là “một người thật sự yêu chuộng hòa bình”.

Quốc Hội Việt Nam Cộng Hòa biểu quyết yêu cầu Tổng thống Trần Văn Hương nhượng quyền lại cho tướng Dương Văn Minh. Hình: AP Photo/Errington.

Dương Văn Minh, được gọi là “Big Minh” vì có thân hình to lớn, cần phải là người tổng thống mới. “Big Minh” đã đóng một vai trò chủ chốt trong lần lật đổ Ngô Đình Diệm năm 1963 và qua nhiều năm trời đã đứng vào phía đối lập với Thiệu. Không ai biết rõ là phe đối lập này thật ra là bao gồm những ai. Nhưng hầu như tất cả mọi người đều tin chắc rằng “Big Minh” có thể cứu thoát Sài Gòn trong thời điểm nguy cấp.

Đại sứ Pháp và Mỹ tin là đã giật dây để cho “Big Minh” bước ra hoạt động. Vào tối ngày chủ nhật, Graham Martin thuyết phục thành công người tổng thống được bổ nhiệm, không cương quyết yêu cầu giới quân đội Mỹ rút quân ngay lập tức. Khoảng cùng thời gian đó, Jean-Marie Merillon vào gặp đại diện phe cộng sản, sau hiệp định ngừng bắn 1973 đang ở trong khu vực an ninh của phi trường Tân Sơn Nhứt của Sài Gòn, để tự mình thăm dò cơ hội của một “chính phủ hòa bình Big Minh” qua sếp của phái đoàn, đại tá Võ Đông Giang, một con người khó tính, giống như một cái máy nói không có xúc cảm.

Merillon được thông báo cần phải gấp rút; người Mỹ phải rút lui ngay lập tức; phải tước quyền “bè lũ Thiệu” và thay thế ở hàng đầu bởi những người ái quốc yêu hòa bình. Tuy vậy, viên đại tá bất thân thiện đó không trả lời cho câu hỏi mang tính quyết định: liệu một chính phủ do Big Minh đứng đầu có được chấp nhận như là đối tác để đàm phán một giải pháp chính trị hay không.

Mặc dù không có được sự chắc chắn cuối cùng này, Martin, Merillon và những người đi theo “Big Minh” vẫn bắt đầu làm việc để cứu thoát Sài Gòn ra khỏi một cuộc chiến và cứu thoát Phương Tây khỏi nỗi nhục nhã của một lần đầu hàng vô điều kiện. Sự lạc quan của họ được nhiều người chia sẻ, chính là những nhà quan sát chính trị đó, những người chịu ảnh hưởng trực tiếp của các nhân vật chính, tự biến mình trở thành những người đồng lõa, và tin tưởng vào những cảm nhận cá nhân ít hơn là vào các phân tích của những người giật dây.

Quân lính Nam Việt Nam và nhóm phóng viên truyền hình Phương Tây tìm chỗ trú ẩn trước đạn pháo của người Bắc Việt ở cầu Tân Cảng, Sài Gòn, 28 tháng Tư 1975. Hình: AP Photo/Hoanh

Lần trao quyền lực từ Hương sang “Big Minh” được dự định vào chiều ngày thứ hai, 28 tháng tư. Hàng ngày, “Airlifter”, máy bay vận tải phản lực của Không quân Mỹ, đến Sài Gòn để chở “những người bị nguy hiểm đặc biệt”. Khoảng 5000 người Việt rời đất nước mỗi ngày. Cảnh chen lấn và xô đẩy của những người tìm chốn tỵ nạn trước tòa đại sứ quán Mỹ hầu như không còn thể điều chỉnh được nữa. Những người muốn chạy trốn cảm thấy một sự khẩn cấp gây tuyệt vọng. Xe tăng cộng sản đã đứng trước cửa ngõ Sài Gòn, và mặc dù vậy, các cơ quan lãnh sự Mỹ vẫn khăng khăng yêu cầu giữ đúng quy trình nhập cảnh phức tạp. Tuy vào lúc này phần lớn các quốc gia Phương Tây đã di tản các đại sứ quán của họ và quẳng các dự trữ rượu mạnh ra thị trường với giá vứt đi, người Mỹ, được dẫn đầu bởi Graham Martin và Thomas Polgar, vẫn còn tin có thể trì hoãn được chiến dịch di tản đường không quy mô lớn đã được lập kế hoạch, vì một giải pháp chính trị bắt đầu hiện hình, cứu Sài Gòn thoát khỏi sự hoảng loạn và khốn cùng của một cuộc chạy trốn.

Vào sáng chủ nhật, hai giờ trước khi mặt trời mọc, quân đội cộng sản bắn vài hỏa tiển vào nội thành, rơi xuống gần đại sứ quán Đức ở vùng ranh giới giữa Sài Gòn và Chợ Lớn, khu phố người Hoa, và gây ra một vụ cháy lớn kinh hoàng. Từ hơn ba năm nay, Sài Gòn không còn bị bắn phá trực tiếp nữa. Các hỏa tiển này, đi kèm theo đó là một tiếng nổ thật lớn, đã để cho người dân nhận thức được rằng màn cuối cùng của cuộc bao vây, đánh chiếm thủ đô, đã bắt đầu.

Chỉ các nhà ngoại giao có nhiều quyền lực và ảnh hưởng trong đại sứ quán Mỹ và Pháp là vẫn không muốn đọc những dấu hiệu ở trên tường đó. Các tín hiệu của phía bên kia cũng có thể được hiểu, rằng Hà Nội chỉ muốn thúc giục tăng tốc quá trình chính trị. Người cộng sản, Graham và Merillon cam đoan lẫn nhau như vậy, sẽ “mất thể diện”, nếu như họ cố tiến quân đánh chiếm thành phố Sài Gòn ba triệu dân trước con mắt của thế giới. Qua nhượng bộ chính trị, cả hai người đều có ý như vậy, có thể giành được một thỏa hiệp hợp lý từ những người cộng sản.

Sài Gòn, 21 tháng Tư 1975. Lần bắn hỏa tiển đầu tiên là vào lúc 4 giờ 30 sáng, đánh vào trung tâm Sài Gòn và đốt cháy 150 căn nhà bằng gỗ. 14 người chết và hơn 40 người bị thương. Hình của Jacques Pavlovsky / Sygma / Corbis.

Sài Gòn, 21 tháng Tư 1975. Lần bắn hỏa tiển đầu tiên là vào lúc 4 giờ 30 sáng, đánh vào trung tâm Sài Gòn và đốt cháy 150 căn nhà bằng gỗ. 14 người chết và hơn 40 người bị thương. Hình của Jacques Pavlovsky / Sygma / Corbis.

Trong những năm dài của chiến tranh, những lý luận tương tự như vậy đã được các chính trị gia phe Tự do đưa ra ở nhiều nơi. Cho tới thời điểm đó, Hà Nội vẫn không đưa ra một bằng chứng nào cho việc này. Mang đặc tính của một “sự ngờ vực gần như là bệnh hoạn” đối với phần còn lại của thế giới và đồng thời là của một “sự tự mãn hoang dại cuồng nhiệt” (như Henry Kissinger sau này ghi lại trong hồi ký của ông), chiến lược đàm phán cố chấp của người Bắc Việt, không đưa ra điều gì và yêu cầu mọi thứ,  cho tới nay không đưa ra bằng chứng nào cho việc rằng thỏa hiệp và nhượng bộ có thể ngăn cản Hà Nội “giải phóng” miền Nam và thống nhất đất nước thành một Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Mặc dù vậy, Hiệp định Paris của tháng Giêng 1973 vẫn được kiến lập trên những tiền đề này, trên giả định rằng Hà Nội sẽ chấp nhận sự tiếp tục tồn tại của một nhà nước ở miền Nam. Việc Hà Nội từ bỏ xâm chiếm miền Nam được mua bằng triển vọng hai tỉ dollar viện trợ kinh tế. Cho tới thời điểm này, trong những ngày cuối cùng của tháng Tư, Hà Nội chỉ chứng tỏ rằng những tiền đề của hiệp định chính trị là một ảo tưởng thuần túy. Không một lời hứa nào và không một lời đe dọa nào có thể ngăn cản Bộ Chính trị ở miền Bắc hoàn thành nhiệm vụ của Hồ Chí Minh và “giải phóng” miền Nam.

Bây giờ, xe tăng của Cách Mạng đã đứng ở rìa thành phố. Mùa khô đã qua, mùa mưa có thể bắt đầu vào bất cứ ngày nào và sẽ gây khó khăn lớn cho các chiến dịch quân sự. Nằm trong đường lối chiến lược cho tới nay của Hà Nội là thủ tiêu phần còn lại của quốc gia Sài Gòn với một cú đánh trúng đích, tận hưởng chiến thắng quân sự, thay vì cho phép có “tương quan  Lào” và qua đó còn mang cả người Pháp và người Nga lên sân khấu như là những người mang lại hòa bình nữa.

Việc đó minh chứng cho sức mạnh của ảo tưởng, rằng ngay cả trong Sài Gòn bị bao vây, hiện giờ bị cô lập khỏi phần còn lại của đất nước, trong tầm nhìn thấy xe tăng của đối phương, mà một kế hoạch hòa bình trên phương diện chính trị vẫn có thể thành hình được, cái tất nhiên là đòi hỏi chế độ ở miền Nam phải hy sinh nhiều nhất, tức là phải tự phá hủy trật tự cho tới nay. “Bè lũ Thiệu”, “chế độ bù nhìn”, phải bị hủy bỏ. Graham Martin, đại sứ Mỹ, đồng ý. Vào chiều ngày thứ hai, 27 tháng Tư, phó tổng thống Hương sẽ từ chức và trao quyền lại cho “Big Minh”.

23 tháng Ba 1964, Tướng Minh bắt tay bác sĩ Lê Khắc Quyến, một thành viên trong Thượng Hội Đồng Quốc Gia.

Các chính trị gia tiến hành sự việc với vận tốc của con ốc sên, trong khi tướng lãnh Bắc Việt, ở Sài Gòn ai cũng nhận thấy, rõ ràng là thúc giục một quyết định. Cả ngày lẫn đêm đều nghe được tiếng “womp-womp-womp” của đạn pháo. Bây giờ tiếng súng nổ lớn nhất là từ hướng phi trường, nơi những chiếc máy bay di tản của cái cầu hàng không nhỏ bé vẫn còn có thể hạ cánh mà không bị bắn phá. Người dân Sài Gòn dao động giữa hy vọng và tuyệt vọng. Cuối cùng thì người Mỹ có chở hết tất cả những người Việt nào muốn đi hay không? Có lẽ cuộc chiến sẽ chấm dứt với một thỏa hiệp chính trị.

Khi một phóng viên nổi tiếng từ giã bạn bè vào buổi tối, vì “giải pháp Lào” cho phép ông bay về quê hương để hoàn thành một phim tài liệu rồi sau đó quay trở lại Việt Nam, thì một người bạn nói với ông ấy rằng hãy quên cái tên Sài Gòn trong lúc đó đi, vì cho tới chừng đó thì người cộng sản đã chiếm được thành phố, và đổi tên nó thành Thành phố Hồ Chí Minh rồi. Đó là “tuyên truyền của CIA”, người này rít lên vì giận dữ. Ý thức lịch sử của người Việt sẽ để cho một lần đổi tên như vậy trở nên vô lý. Cuộc thảo luận dường như tình cờ đã trở nên dữ dội cho tới mức buổi tiệc từ giã kết thúc sớm hơn dự định.

Ai cho rằng người cộng sản quyết định chấm dứt cuộc chiến đẫm máu với hơn một triệu nạn nhân bằng một chiến thắng quân sự, và sau đó tạo dựng ở miền Nam những điều kiện giống như ở Bắc Việt Nam, kể cả những giới hạn cho giới báo chí nước ngoài, thì ngay trong những ngày cuối cùng của Sài Gòn, người đó vẫn phải chịu đựng sự nghi ngờ, là đã trở thành một nạn nhân của tuyên truyền Mỹ. Nhưng cuộc tranh cãi của các ý kiến đã được nhanh chóng quyết định ngay sau đó.

(Còn tiếp)

Phan Ba dịch từ báo Die Zeit, số 18, ra ngày 26/04/1985:

http://www.zeit.de/1985/18/die-letzten-tage-von-saigon/komplettansicht

———–

http://phanba.wordpress.com/2014/04/08/nhung-ngay-cuoi-cung-cua-sai-gon-phan-2/

 

 

Những ngày cuối cùng của Sài Gòn (phần 1)

Tác giả: Winfried Scharlau (Phan Ba dịch)
KD: Tháng 04 này, có ngày 30/4 lịch sử, một ngày, mà nói như cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt “có hàng triệu người vui, cũng có hàng triệu người buồn”.  Giải tỏa nỗi buồn dân tộc đó, chỉ có thể  là sự hòa hợp dân tộc làm sao đến càng nhanh càng có ý nghĩa, cho sự chung tay xây dựng nước Việt phát triển và trường tồn, kiêu hãnh như các bậc tiền nhân đã gây dựng. Nhân tháng 04 lịch sử này, Blog Kim Dung/ Kỳ Duyên xin được copy bài viết của nhà báo Đức Winfried Scharlau từ Blog Phan Ba.
Xin cảm ơn Blog Phan Ba có bài dịch ý nghĩa
————-

Trước đây mười năm, người Mỹ tháo chạy khỏi Sài Gòn. Những cố gắng cuối cùng để giải quyết sự lộn xộn về chính trị, trình ra cho Hà Nội một chính phủ mới, “thật sự yêu chuộng hòa bình”, như là một đối tác đàm phán, đã trở thành ảo tưởng. Trong cơn mưa bom đạn đổ xuống thủ đô của nó, Việt Nam Cộng Hòa đã chấm dứt tồn tại. Với những phần còn lại của xã hội thì không còn có thể kiến lập một nhà nước được nữa. Thông tín viên Đông Á của [Đài truyền hình Quốc gia Đức] ARD nhớ lại.

Phan Ba dịch từ tuần báo DIE ZEIT, 26/04/1985, Số 18

Lời người dịch: Tiến sĩ Winfried Scharlau (1934 – 2004) là một nhà báo, tác giả và sử gia người Đức. Ông là phóng viên chiến trường trong thời gian của cuộc Chiến tranh Việt Nam. Ông đã từng bị thương ở gần vĩ tuyến 17. Năm 1974, chiếc máy bay trực thăng chở ông đã đáp trúng mìn. Winfried Scharlau là một trong các nhà báo Phương Tây cuối cùng rời Việt Nam trong tháng Tư năm 1975.

Sài Gòn sợ chiến tranh hơn là sợ những người cộng sản. Mặt trận đã tiến đến gần; vào ngày 21 tháng Tư, Xuân Lộc thất thủ, pháo đài cuối cùng chận đường tiến quân vào thủ đô của các sư đoàn Bắc Việt từ phía Đông.

Xuân Lộc, ngày 13 tháng 4 năm 1975

Tiếng “womp-womp-womp” của pháo binh, như Michael Herr sau này sẽ chuyển tải lại tiếng động đặc biệt đó một cách thơ mộng-to tiếng trong quyển Dispatches, đã có thể nghe được suốt ngày đêm. Nhưng tiếng “dit-dit-dit” của súng cá nhân, ngoại trừ vài ngày trong lần tấn công vào dịp Tết [Mậu Thân] 1968, đã dung tha cho người dân của Sài Gòn. Cho tới bây giờ, người Sài Gòn đã sống qua được chiến tranh; còn hưởng lợi từ nó nữa, và hưởng thụ những gia vị của một “xã hội Honda”, cái mà bây giờ có nguy cơ bị cuộc chiến phá hủy.

Về quân sự thì cuộc chiến đã ngã ngũ. Sau khi chiến dịch tấn công mùa xuân bắt đầu trên vùng núi, sau khi mất Ban Mê Thuột và Kontum, Tổng thống Thiệu và bộ tham mưu của ông đã hạ lệnh rút lui, điều đã dẫn tới bỏ chạy và hỗn loạn.

Chỉ còn những phần nhỏ của một quân đội được trang bị hiện đại gồm hơn nửa triệu người là còn muốn đứng ra chiến đấu. Lần di tản hỗn loạn ra khỏi vùng đồi núi chỉ thể hiện rõ cuộc khủng hoảng trong nội bộ của quân đội Sài Gòn. Tinh thần chiến đấu của quân lính đã gãy gục trong những tháng trước đó. Từ khi Mỹ cắt giảm viện trợ tài chính, từ khi ai trong miền Nam cũng đã hiểu, rằng Hoa Kỳ không cung cấp vũ khí và tiền tỉ dollar vô giới hạn nữa, và cũng không sẵn sàng hỗ trợ thêm một lần nữa với không quân và quân đội trong trường hợp khẩn cấp, chậm nhất là từ mùa thu 1974 thì con người, quân nhân và người dân thường, ai cũng chỉ muốn cứu lấy chính mình, và trước hết là việc đó. Người Việt nhìn thấy điều không thể tránh khỏi đang tiến đến gần. Khác với người Khmer trong Phnom Penh cách đó còn chưa tới 300 kilômét, những người ngay cả sau khi đại sứ quán Mỹ đã di tản cũng còn chiến đấu trên đường phố cho tới kết cuộc cay đắng cuối cùng, đa số người Việt nhìn thấy sự an toàn trong bỏ chạy. Ai còn muốn liều mạng sống của mình cho một việc đã thất bại rồi? Sự hỗn loạn đi cùng với lần sụp đổ của Nam Việt Nam có nguyên nhân sâu xa của nó trong nhận thức và lý trí của tập thể.

Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức

Vào ngày Xuân Lộc thất thủ, Nguyễn Văn Thiệu, tổng thống của Việt Nam Cộng Hòa, bảo đảm và đại diện cho trật tự cho tới giờ phút đó, tuyên bố từ chức. Vào buổi tối, ông đã thổ lộ niềm cay đắng của mình về nước Mỹ trong một bài diễn văn trên truyền hình. Thiệu lên án bộ trưởng bộ ngoại giao Mỹ Henry Kissinger đã không nhận ra, rằng hiệp định Việt Nam do ông ta thương lượng trong tháng Giêng 1973 đã dẫn miền Nam đi tới chỗ chết. “Ai cũng nhận ra điều đó, nhưng Kissinger thì không. Các cường quốc có lợi ích chung. Chúng tôi không có gì để hy sinh ngoài đất nước nhỏ bé này.” “Họ bán đứng Việt Nam cho người cộng sản”, Thiệu nói người Mỹ. “Thái độ vô nhân đạo của Hoa Kỳ là thái độ của một cường quốc trốn tránh trách nhiệm của mình.” Tổng thống Richard Nixon, Thiệu nói tiếp theo sau đó, đã “hứa trên giấy là sẽ giành cho đất nước mọi sự giúp đỡ cần thiết về quân sự và kinh tế trong trường hợp miền Bắc tấn công.” Giới hạn sự giúp đỡ của Mỹ là một hành động vô nhân đạo và đã dẫn tới cuộc rút lui khủng khiếp đó và tới nhiều tổn thất. “Tôi không bao giờ tin rằng”, Thiệu nói và khóc, “một người như Kissinger mà lại đưa dân tộc chúng tôi tới một số phận đáng sợ như vậy.”

Sài Gòn cảm động lắng nghe người tổng thống đã từ chức đó. Những xúc cảm mà ông biểu lộ trong lần xuất hiện cuối cùng này, điều mà nhiều người không hề nghĩ rằng ông có, đã để cho một sự thiện cảm nhất định nhú mầm. Nhưng đặc biệt là quyết định đi lưu vong của ông đã tạo hy vọng cho một lần ngưng bắn mới. Hà Nội và Mặt trận Giải phóng đã yêu cầu lật đổ Thiệu và “bè lũ” của ông như là điều kiện tiên quyết cho các đàm phán. Ngay tới Quốc Hội Mỹ cũng tuyên bố rằng chừng nào mà Thiệu còn nắm quyền thì chiến tranh sẽ kéo dài cho tới chừng đó. Bây giờ thì dường như đã có một lối thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng. Phó tổng thống Trần Văn Hương 71 tuổi tạm thời nhận lấy quyền lãnh đạo ở Sài Gòn. Người kế nhiệm, Thiệu cũng đã thông báo trước để lý giải cho lần từ chức của mình, sẽ đề nghị ngưng bắn và đàm phán.

Người dân đang chạy tỵ nạn ở Vũng Tàu,  21 tháng Tư 1975. Hình:  Pavlovsky/Sygma/Corbis

Dường như Sài Gòn lại có hy vọng mới. Những người làm việc cho người Mỹ hay cho một sứ quán của Phương Tây bao vây từ sáng cho tới tối những phòng lãnh sự để nhận thị thực cho họ và gia đình. Chạy trốn là giải pháp của một thiểu số, ngay cả khi những cảnh từ biệt đầy xúc động trước cổng vào phi trường có quyết định hình ảnh chung cho tới đâu đi chăng nữa. Người Mỹ vẫn còn chưa tỏ dấu hiệu, rằng họ đã sẵn sàng cho một cuộc di tản đông người. Phần lớn người dân trong phần còn lại của nhà nước Nam Việt Nam, cái bây giờ chỉ còn bao gồm những vùng đất hẹp quanh Sài Gòn và các tỉnh trong vùng đồng bằng sông Cửu Long, hy vọng vào một điều kỳ diệu: hy vọng vào một tín hiệu đầy bí mật, cái có thể sẽ làm câm lặng pháo binh cộng sản đã vào vị trí có thể bắn tới Sài Gòn từ lâu, và dừng xe tăng lại, để trao tiếng nói cuối cùng cho các chính trị gia và nhà ngoại giao.

Rằng Phnom Penh đã bị Khmer Đỏ chiếm trước đây vài ngày, rằng chiến tranh đã tới gần cho tới mức có thể cảm nhận được, những việc đó đã không thể bóp nghẹt niềm hy vọng đang nhú mầm. Nỗi lo sợ trước trận đánh cuối cùng đã để cho ảo tưởng nở hoa. Kết cuộc của Sài Gòn là một chiến thắng của ảo tưởng.

Đội ngũ các nhà báo, những người bây giờ có thể thực hiện các chuyến đi ra chiến trường thật thuận tiện vào ban ngày, vì chiến tranh đã tiến gần tới mức có thể nghe được, được người Mỹ mời tới dự một cuộc họp trên quán rượu ở sân thượng của khách sạn cao tầng “Caravelle”. Thay cho các thông tin về chính trị và diễn tiến cuộc chiến là những chỉ thị “mật” cho trường hợp khẩn cấp, cho lần di tản bằng trực thăng. Có một chỗ tập trung được quy định trước cho các nhà báo, ở gần văn phòng UPI, gần cảng sông, có thể nhanh chóng tới đó được từ các khách sạn lớn “Caravelle”, “Continental” và “Majestic”. Tín hiệu, các nhà báo được tin tưởng thông báo, sẽ được phát qua radio vào ngày X. Trong trường hợp khẩn cấp, đài phát thanh của quân đội Mỹ, phát tin tức “every hour on the hour”, sẽ thêm vào câu: “The temperature is 105 degrees and rising”, tiếp theo sau đó là bài “I am dreaming of a white Christmas” của Bing Crosby. Người ta sẽ chờ quý bà, quý ông nhà báo tại địa điểm tập trung với nhiều nhất là một món hành lý.

(Còn tiếp)

Winfried Scharlau

Phan Ba dịch từ báo Die Zeit, số 18, ra ngày 26/04/1985:

http://www.zeit.de/1985/18/die-letzten-tage-von-saigon/komplettansicht

————

http://phanba.wordpress.com/2014/04/06/nhung-ngay-cuoi-cung-cua-sai-gon-phan-1/

 

 

Khánh Ly: Hẹn về nghiêng cánh vui

Tác giả: Hoàng Xuân

Dù giờ đây cô có hát bằng giọng yếu hơi trên sân khấu thì người nghe vẫn sẽ phơi phới cất lên với cô bằng giọng hát thanh xuân bất tuyệt của họ ở trong lòng.

Đọc thêm: Hé lộ cát-se khủng mời Khánh Ly về nước

Khánh Ly trở về. Một tin vui xôn xao.

Không chỉ những ai đã có ký ức với gương mặt Khánh Ly mới mong ước một ngày tận mắt thấy cô trở về đứng trên sân khấu Việt Nam, mà những đứa trẻ lớn lên sau 1975, như tôi, vẫn đầy một ký ức với tiếng hát Khánh Ly. Biết bao giờ mới có một giọng hát đặc biệt như vậy?

Khánh Ly là một phần tuổi thơ tôi, khi cha mẹ tôi dùng cái cassett cũ kỹ để vang vọng khắp nhà những giọng ca “trước 75”: Khánh Ly, Thanh Tuyền, Duy Khánh, hát Trịnh Công Sơn, Phạm Duy…

Nha Trang ngày về, gót chân du khách giẫm lên những con ốc nhỏ trên bờ biển, còn hai con mắt khóc người một con, mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ, mùa xanh lá loài sâu ngủ quên trong tóc chiều…

Khánh Ly, Trịnh Công Sơn, thanh xuân,

Giống như bao gia đình hồi đó, đến bữa tôi ôm rá gạo tỉ mẩn nhặt những đùm gạo rỗng tuếch dính nhau, bên trong có con sâu gạo bé tí nằm cong queo nhưng bên tai vẫn miên man chảy những dòng du dương.

Chúng tôi đến trường học hát “Hờn căm bao lũ tham tàn phát xít”, về nhà lại “Trời ươm nắng cho mây hồng/ Ông trăng xuống chơi cây cau”…  Cha mẹ tôi cũng vậy. Dường như việc cả ngày nghe nhạc của các nhạc sĩ “trước giải phóng”-hồi ấy người ta gọi thế và buổi tối viết thu hoạch học Nghị quyết không có gì mâu thuẫn nhau cả. Đặt vào thời điểm vừa sau 1975, đó là việc khá khác thường. Nhưng ở gia đình tôi mọi việc cứ hồn nhiên như thế.

Chúng tôi lớn lên với những giọng ca đẫm đượm, thuộc lòng bài hát lời ca nhưng chẳng biết người hát tên gì, mặt mũi ra sao. Đến khi trưởng thành, nhận ra từ lúc nào mình biết băn khoăn cũng là lúc nhận ra vẻ đẹp ấy đã quện trong lòng.

Khánh Ly, Trịnh Công Sơn, thanh xuân,
Trịnh Công Sơn và ca sĩ Khánh Ly (trái) và cô em gái ca sĩ Trịnh Vĩnh Trinh (phải)

Thì hôm nay, Khánh Ly trở về.

Chồng chất những bốn mùa như gió như mây nhưng giờ đây dòng sông đã nối đôi tay liền với biển khơi. Con chim giang hồ lang thang với gió và giấu nỗi buồn trong cánh, cuối cùng không còn phải hẹn hò với giấc mơ mà thực sự đã trở về vui bên dòng sông vạm vỡ.

Hai mươi mấy năm, mưa đã reo mòn gót nhỏ. Lớp tuổi chúng tôi bây giờ gọi Khánh Ly bằng “cô”. Một đời biển động, những vết chim di đã in trên đuôi mắt, tóc như dòng sông xưa đã phai, và giọng hát huyền thoại dĩ nhiên cát bụi đã mệt nhoài.

Nhưng vẫn xôn xao chờ đón cô Khánh Ly trở về hát trên sân khấu Việt Nam. Vì yêu.

Yêu giọng hát hiếm có của cô xa xưa đã khiến ta ngẩn ngơ nghe sợi tơ mảnh trong lòng rung lên từ khi ta còn ôm bầu vú mẹ. Yêu giọng hát hoang mang của cô vang trên đồi cao, cất lên giữa xác người, đốt dậy những thảng thốt Huế-Sài Gòn-Hà Nội. Yêu giọng hát đau thương ngày nào kinh nghi nhìn đàn bò vào thành phố. Yêu tiếng ca đỡ bước chân người mẹ già cô độc ra sau vườn hỏi thăm trái bí trên giàn. Yêu giọng hát mênh mông khiến ta một mình giữa đêm tịch lặng vẫn trôi miên man trong bao la thắm thiết. Yêu những rộn rã như chân chim nhảy nhót hôm nhìn thấy em đi về bên kia phố. Yêu người con gái Việt Nam da vàng, mái tóc dài rẽ giữa dày và đen, đôi mắt kiên nghị tươi rỡ, tà áo bay lượn quanh thân, kiêu hãnh và nồng nàn cất lên rằng cô ấy yêu quê hương như yêu đồng lúa chín.

Yêu vì giọng hát cô là cái đẹp, mà từ cái đẹp ấy duyên khởi ta đến những vẻ đẹp thênh thang khác ta sẽ tự tìm ra mãi mãi. Cái đẹp nguyên sơ bất chấp màu lá thanh xuân hay ngày thu sang rồi tàn, vẫn miên viễn mạ vàng cho những ngày ta sống.

Trở về khi đôi chân đã muốn tìm đến chiếc ghế nghỉ ngơi, cô cứ hát đi, dù giờ đây cô có hát bằng giọng yếu hơi trên sân khấu thì người nghe vẫn sẽ phơi phới cất lên với cô bằng giọng hát thanh xuân bất tuyệt của họ ở trong lòng.

Vì mặt trời mặt trời đã lên, một ngày một ngày đã qua rồi, từng vùng từng vùng lá xanh, rộn ràng rộn ràng tiếng cười nói… Vì dù Chúa có bỏ loài người, Phật có bỏ loài người, nước sông cạn nguồn, cây khô trên cành trút lá thì tiếng hát vẫn bay bâng khuâng. Để nhắc nhớ ta “cần có một tấm lòng”.

Để gió cuốn đi…

———–

http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/170157/khanh-ly–hen-ve-nghieng-canh-vui.html