Thắp nén hương thơm mát dạ người

Tác giả: Đào Dục Tú

KD: Những ai là người Việt hẳn không thể nào không biết tới Truyện Kiều (Nguyễn Du) nổi tiếng. Đọc bài này bỗng nhớ tới Bà ngoại mình xưa, là vợ một ông Thông phán “tây học” ở Hà Nội cũ, vậy mà bà mình thuộc Kiều làu làu, như một cuốn từ điển sống về Kiều.

Cảm ơn anh Đào Dục Tú dẫn dắt bạn đọc về xứ Tiên Điền nổi tiếng, để được đắm mình trong không gian, xứ sở đã sinh ra Đại thi hào nước Việt   😀

Tôi mượn ý thơ của Tố Hữu trong bài thơ Mẹ Tơm để làm tiêu đề cho bài tạp văn của mình, viết đôi ba nét về quê hương cụ Nguyễn Du sáng danh hàng đầu lịch sử văn chường Việt, văn đàn Việt cổ kim với thi phẩm Truyện Kiều trác tuyệt. Về Nghi Xuân, về Tiên Điền vào dịp “Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi”- giữa tháng ba âm lịch, cũng như nhiều người Việt gần xa cả nước ít nhiều “duyên nợ với chữ” đã tới đây, tôi hỏi đường đi viếng mộ cụ.

Ảnh: lucbat.com

Vào một buổi mai lất phất mưa bụi bay, như xuân Nguyễn Bính thủa nào ” Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay”, từ khu tưởng niệm Nguyễn Du ra đường, tôi đang lơ ngơ không biết xuôi ngược ra sao thì may quá gặp một bà mẹ đoán chừng trên dưới tám mươi gì đó đang tắt đường đồng, dáng đi tất bật, vất vả. Cụ nói cụ đi thăm cháu ở làng bên về và bảo “Đi viếng mộ cụ, chú cứ theo tui”. Hóa ra không theo đường cái lớn vòng thúng, cụ dẫn tôi đi lối tắt chéo cánh đồng.

Qua xóm mạc đất Tiên Điền, qua những khu ruộng trồng lạc đại trà, cây đang thì xanh non xanh mướt mát dưới trời mưa xuân, tôi nhẩn nha hỏi chuyện bà mẹ xứ Nghệ “cực quê mùa” cứ đi một đoạn chốc chốc lại kêu “Nhọc quá chú, nhọc quá chú !”. Qua xóm nghèo vừa quen lại vừa lạ, vẻ quê đâu đâu cũng thế thôi nhưng sao vùng này còn nghèo thế, dân mới lập cư chăng? Nghèo từ cái cổng nghèo đi.

Qua nhiều cổng nhà gài đan tay tre sơ sài, chợt nhớ chữ “sài môn” (cửa làm bằng . . .củi) của người thời cổ xưa nơi thâm sơn cùng cốc. . .. Qua cổng nhà nào cũng thấy mẹ mau miệng hỏi, gọi vọng vào phía trong chả biết có người hay không rồi như quen cả “chú cán bộ” là tôi đang lẽo đẽo theo sau, cụ vừa đi vừa độc thoại với đủ thứ “mô tê răng rứa” và “ngữ điệu quê choa” có phần khó nghe. Nhưng với tôi ,một “Khách xa gặp lúc mùa xuân chín” (thơ Hàn Mặc Tử) sao thấy một niềm vui giản dị mà ấm áp lòng người quá đỗi.

Mấy trăm năm đã trôi qua, biết bao nhiêu là thăng trầm thế cuộc hết thịnh lại suy; biết bao nhiêu là dâu bể đời người, phận người Việt mình đi ngang qua lịch sử chiến chinh dằng dặc không một thời kỳ nào không đong đầy nước mắt bi phẫn tủi hờn mà quê cụ đây cũng như quê thân mẫu của cụ- làng Hoa Thiều, Minh Đức Bắc Ninh đồng hương Kinh Bắc với tôi vẫn gần như “nguyên bản” bức tranh quê Việt!

Mộ Cụ Tiên Điền. Ảnh Trang thông tin điện tử Nguyễn Du

Ấy là muôn thủa tre pheo bao quanh thôn xóm, ấy là con đường đất qua làng tre ướt lươt thướt, lá tre đung đưa rủ cả xuống đầu người qua đường, bóng ai thấp thoáng sau hàng rào cây như biên giới tượng trưng nhà này nhà nọ. Ấy là sinh hoạt thường nhật của người nhà quê quản quanh với đất hao hao như nhau trong vườn ngoài ruộng. . .

Người quê cụ tự hào về truyền thống học hành khoa cử của tiền nhân lắm nên vùng này mới có câu ngạn ngữ: “Lắm lúa Xuân Viên, lắm quan Tiên Điền”. Tôi đã có buổi chiều một mình lang thang đây đó dọc trục đường Tiên Điền, vào nhà nọ, sang nhà kia ,muốn được hỏi han người quê cụ. Cháu Hải là cháu ngoại của bà cụ Xuân, cụ Xuân gọi cụ Nghè Mai- bậc ” túc Nho đỗ đạt” cuối cùng thuộc trực hệ họ Nguyễn Tiên Điền là bác ruột, nói với tôi:

“Thời nay cũng thế chú ơi, cả bí thư lẫn chủ tịch huyện đều là dân Tiên Điền cháu!” (Đã mười năm rồi, sự đời đó, có còn không?) Cụ Nguyễn Đệ trên 80 (nay cụ có còn ở với con cháu thì là tuổi 90 có lẻ ), cũng xem như bậc “túc Nho” hậu duệ cuối cùng của dòng họ Nguyễn Tiên Điền. Gặp cụ ở khu tưởng niệm Nguyễn Du, trong câu chuyện chữ nghĩa, cụ đã giúp tôi phân định rõ hai chữ ” Khấp” hay là “Khốc” trong câu thơ chữ Hán nổi danh “Bất tri tam bách dư niên hậu- Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như”.

Cụ Đệ nói “Về sau tôi thấy có bản ghi Khốc, có bản ghi Khấp. Khấp hay Khốc nghĩa đều là “khóc” cả nhưng “khấp” là khóc không thành tiếng, khóc âm thầm; còn ” khốc” là khóc không kìm nén được, khóc to lên nỗi đau nhân thế !” Tôi chợt liên tưởng đến chuyện “khốc hoàng thiên” gào khóc giữa đất trời. Tôi tin Khấp là chính xác vì có ai hàng trăm năm sau còn “nức nở” thậm chí khóc rống lên vì nàng Kiều,vì cụ? Người ta chỉ có thể âm thầm khóc trong lòng thôi chứ!

Cảm ơn người mang dòng máu họ Nguyễn Tiên Điền đã cho kẻ hậu sinh khiếm khuyết chữ Hán cổ một chữ “khấp” trong thơ chữ Hán của cụ Nguyễn Du. Về “kho chữ” của tác giả truyện Kiều, tôi thường nhớ lời bình của danh sĩ Huỳnh Thúc Kháng về sự nghiệp chữ của tiền nhân “Trau lời rèn điển, thêu gấm chạm hoa, rõ là một nhà mỹ thuật thiên tài”. Và lời của nhà Việt Nam học người Nga Niculin quen thộc với giới nghiên cứu văn học Việt từ thập kỷ sáu mươi thế kỷ trước: “Bất cứ dân tộc nào cũng có nhà thơ thân yêu của mình”.

Phải rồi dân tộc Nga có Pu-skin, dân tộc Việt có Nguyễn Du- nhà thơ thân yêu nhất đã góp công vĩ đại đưa ngôn ngữ Việt sau hàng ngàn năm nô lệ. . . giặc phong kiến cả trong lẫn ngoài vốn chỉ là “Lời quê chắp nhặt dông dài” như cụ Nguyễn Du khiêm cung, lên thành ngôn ngữ nghệ thuật đặc sắc của thi ca Việt thế kỷ 18. Và cho đến thời a- còng nhiều nhân vật được xây dựng bằng thứ ngôn ngữ ấy qua bàn tay vàng nghệ thuật cầm bút của cụ Nguyễn thiên tài, vẫn được người đời “soi gương chiếu hậu” như nàng Kiều, chàng Kim, chàng Thúc và đủ loại Tú Bà, Sở Khanh hiện đại…

Hiển nhiên vì thế “bất tri tam bách dư niên hậu” không người Việt có học nào và không một ai đã tựa tựa như người nhạc sĩ tài danh vừa khuất bóng chưa lâu “Tôi yêu tiếng nước tôi, từ khi mới ra đời- mẹ già ru những câu xa vời” (ca từ Phạm Duy). Hay như cụ Phạm Quỳnh đã nói từ trước thời đại mới tháng Tám năm bốn mươi nhăm “Truyện Kiều còn, nước ta còn”.

Những người Việt như thế và hậu thế của họ ai lại “lỡ quên”‘ được cụ. Thơ Kiều, cùng chữ nghĩa của cụ Nguyễn Tiên Điền không dứt vọng âm trong tâm cảm người Việt. Tôi xin nối gót người xưa, người nay, thắp nén tâm nhang viếng mộ cụ.