Nghĩ đôi điều về bốn chữ “hòa giải hòa hợp”

Tác giả: Đào Dục Tú

KD: Ngày 30/4 chưa đến, nhưng những ám ảnh về sự hòa hợp, hòa giải dân tộc lại đã trở lại trong tâm thức của nhiều người dân yêu nước, mong muốn nước Việt đoàn kết, có sức mạnh và có tầm nhìn xa, dài rộng, để có thể đi qua những tháng năm khó khăn, đau khổ này, hội nhập hiện đại văn minh tiên tiến, để không hổ thẹn với tiền nhân.

Cảm ơn anh Đào Dục Tú 😀

————

Ba mươi chín năm đã trôi qua kể từ ngày 30-4-1975. Ba mươi chín năm không là dài so với lịch sử hàng nghìn năm, hàng vạn đời người Việt của 54 dân tộc anh em nối tiếp nhau sinh cơ lập nghiệp và chống trả đủ thứ kẻ thù để hiện tồn bền vững trên bờ biển Đông sóng gió trên hai ngàn năm có lẻ.

Chim Việt cành Nam. Ảnh trên mạng

Nhưng với một đời người, một gia đình trong suốt một phần tư thế kỷ chia cách nên “ngày Bắc đêm Nam”, “ngày Nam đêm Bắc”, sống với quê hương trong tâm tưởng và phận số riêng tư của từng cá nhân con cháu họ, ba mươi chín năm quả là đáng kể vô cùng” Thế hệ ông cha thưa vắng dần, thế hệ hậu chiến” sinh ra vào thời điểm trước và sau năm 1975, đã tiến dần, chạm đến cung đoạn nhân sinh “tứ thập bất hoặc” – bốn mươi tuổi không còn nhầm lẫn gì nữa, theo quan niệm nhân sinh của người xưa.

Gần bốn mươi năm, con người đã trưởng thành, thậm chí, đã lên tới đỉnh dốc, bắt đầu sang nửa dốc bên kia. Vậy mà, thật đáng suy nghĩ, chiến tranh, thù hận, chia cắt “theo dòng lịch sử” đi qua hai thế hệ người “hậu chiến”, thời gian như thế là “quá đủ dài” tưởng người Việt có thể làm xong từ lâu phận sự khó khăn nhất là giúp nhau hàn gắn, đồng thời tự mình hàn gắn vết thương hận thù trong tâm cảm, nhất là những ai thuộc thế hệ tham chiến ở hai chiến tuyến thường được định danh “quốc gia – cộng sản” đối đầu nhau.

Hóa ra không phải! Hóa ra không được thành tâm thành ý như thế ! Buồn thay, cũng đáng tiếc thay! Cho tới tận ngày đầu tháng tư năm 2014 này, một quan chức ngoại giao hàm thứ trưởng, ông Nguyễn Thanh Sơn trong chuyến công du Bắc Mỹ, vẫn phải thêm một lần nữa sau không biết bao nhiêu lần, chính thể trong nước trịnh trọng và thiết tha lên tiếng kêu gọi người Việt hai phía cùng nhau bắt tay lấp hố sâu hận thù!

Người Việt hai phía, cụ thể, nói gọn là giữa chính thể trong nước, giữa cán bộ đảng viên, nhân dân trong nước gốc miền Bắc XHCN ,gốc “giải phóng” trên “rờ” trong bưng,với cộng đồng người Việt ngoài nước nói chung, cộng đồng người Việt ở Mỹ và phương Tây nói riêng- một cộng đồng hàng triệu người đủ các thành phần xã hội do hoàn cảnh lịch sử và cá nhân đã bỏ “miền Nam quê hương tôi”, bỏ nước ra đi trước và sau sự kiện 30-4 lịch sử.

Tiếp đó hàng chục ngàn người được truyền thông phương Tây định danh “thuyền nhân” vào cuối thập kỷ 70, đầu thập kỷ 80 thế kỷ trước đã may mắn thoát chết trong gang tấc, vượt qua sóng dữ đại dương cùng đủ loại hải tặc, bằng mọi giá “tị nạn” thời hậu chiến đất nước bị xô đẩy tới “bên bờ vực sụp đổ” cực kỳ nguy hiểm ..

Vết thương cũ còn rỉ máu chưa lành, chấn thương mới đào sâu hơn hố thẳm thù hận trong tâm thức hàng chục ngàn người liều thân đi tìm “miền đất hứa” ở những chân mây cuối trời khác nhau, chưa kể thân nhân của họ ở trong nước. Có người cầm bút viết sử “phía bên kia “định dạnh cộng đồng người di tản, cộng đồng người “thuyền nhân” cùng đủ loại ra đi hợp pháp, có trật tự là “Việt Nam Cộng Hòa thu nhỏ”, “Việt Nam cộng hòa nối dài”.

Danh xưng đó xuất xứ bởi hầu hết các gia đình người Việt quy tụ đông đảo ở quận Cam – Cali, Mỹ và hàng trăm “trung tâm người Việt” cùng tổ chức hội đoàn người Việt lớn có nhỏ có ở châu Âu, ở Ô-xtrây-lia, ở Pháp, Đức… v..v… đều có “người tiền trạm ra đi” nguyên gốc là công chức, viên chức, binh sĩ đủ các quân binh chủng và các cấp cao thấp khác nhau của chế độ Sài Gòn cũ mang danh Việt Nam Cộng Hòa.

Nhìn lại cái gốc sinh ra cộng đồng ấy là cuộc chiến tranh Việt Nam do người Mỹ tiến hành nhằm mở rộng biên vực thế giới tự do đến tận vĩ tuyến 17 ở Việt Nam và đủ thứ hệ lụy của nó, người ta không thể không thấy một thực tế hiển nhiên.
Đó là chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của người Mỹ thập kỷ sáu mươi và nửa đầu thập kỷ 70 thế kỷ trước, theo đà tăng tốc độ và cường độ chiến tranh Việt Nam mỗi ngày một cao hơn, đã dần dần khoác lên vai, chất lên lưng người Việt bên kia vĩ tuyến 17, từ con sông tuyến Bến Hải đổ vào tới mũi Cà Mau.

Chính giới Mỹ thời bấy giờ đã chẳng định nghĩa chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh của họ là “thay mầu da xác chết lính Mỹ” đó sao? Và hệ lụy tất yếu là hàng triệu người máu đỏ da vàng cầm súng Mỹ buộc phải “chết thay lính Mỹ cho chiến cuộc này”, đồng thời cũng vì vậy hố sâu chia cắt hận thù giữa người Việt với người Việt trên hai chiến tuyến theo thời gian chiến tranh mỗi ngày thêm rộng, thêm sâu, đến mức gần bốn mươi năm sau vẫn không sao san lấp được!

Cái hố sâu nguy hại, nguy hiểm ấy có khi được đào bới vô hình vô ảnh ngay trong một căn nhà, trong tình cốt nhục, ngay trong tâm thức của một con người có người ruột thịt ở cả hai phía quốc gia ,cộng sản! Vết thương thù hận chia rẽ bên này bên kia với đủ thứ cách nói, cách gọi, cộng sản, quốc gia, trong nước, ngoài nước, bên thắng cuộc, bên thua cuộc.

Tuy không nguy hiểm chết người, tuy không chảy máu, mà sao như ung bướu chứa đầy độc tố trong tâm thức tâm cảm người Việt, như chất cường toan bào mòn niềm tin lẫn nhau ngay trong cộng đồng dân tộc, xói mòn và làm vô hiệu không biết bao nhiêu lời kêu gọi hòa giải hòa hợp phát ra từ các diễn đàn chính thể trong nước gần bốn mươi năm qua!

Giá như tinh thần “Không có bên thắng bên thua giữa người Việt với người Việt. Chỉ có nhân dân Việt Nam là người chiến thắng cuối cùng cuộc chiến tranh này” được thấu suốt thời kỳ hậu chiến ,đi vào lòng người. Giá như . . .Thật đáng tiếc những hành xử cực đoan, duy ý chí ấu trĩ trong lĩnh vực kinh tế và quản lý xã hội thời hậu chiến như đổ dầu chữa cháy . .

Và biết bao nhiêu người khác bất chấp thực tế lịch sử, cứ để nấm mồ quá khứ mang tên “quốc hận” đè nặng tâm hồn, bịt chặt mọi cánh cửa hòa giải.

Không ai làm lại được từ đầu, chẳng có phép mầu nào quay ngược được thời gian. Chỉ biết rằng đã và đang diễn ra một nghịch lý, thậm chí một sự trớ trêu của lịch sử, là gần 40 năm sau cuộc chiến tranh Việt Nam kết thúc, những kẻ thù cũ của Việt Nam một thời đứng đầu là Mỹ, tiếp đó là hàng loạt nước thời đó gọi là “chư hầu” của Mỹ đem quân tham chiến, thì từ lâu đã trở thành đối tác, thậm chí đối tác toàn diện.

Đặc biệt là đối tác kinh tế và ngoại giao nhân dân, văn hóa và giáo dục, nghĩa là từ lâu họ đã trở lại Việt Nam với tư cách bạn bè tin cậy lẫn nhau. Trong khi đó người mình với nhau bên này bên kia đại dương chưa hết xem nhau như cừu thù, vẫn phải kêu gọi nhau, hò nhau san lấp hố sâu thù hận!.

Từ nghịch lý tưởng như vô lý đó tiếc thay vẫn còn là sự thật nhãn tiền , người viết muốn “hiểu sâu hơn vấn đề” hòa giải hòa hợp dân tộc” nên đã làm thêm cái việc truy tìm nguyên nghĩa của bốn chữ ,bốn từ gốc Hán Việt “hòa giải hòa hợp”, mong tránh tình trạng “nói chữ mà không hiểu chữ nói gì”.

Trong cuốn từ điển Hán Việt của cụ Đào Duy Anh khả kính, nói rõ “Hòa giải” là giải quyết vấn đề khó khăn để hai bên hòa thuận. “Hòa hợp” là cùng nhau hòa thuận, không cạnh tranh xung đột với nhau. Nghĩa chữ và tinh thần của bốn chữ hòa giải hòa hợp rõ ràng là thế, còn có gì mơ hồ, khó hiểu, hồ nghi nữa đâu.

Từ chuyện chữ sang chuyện đời chuyện người. Là người Việt, ai chẳng băn khoăn day dứt trước hố sâu thù hận, chia rẽ vô hình mà ám ảnh, nặng nề. Biết rõ mười mươi không có lợi gì cho ai, thậm chí còn có hại cho sự nghiệp chung đại đoàn kết dân tộc. Có lẽ nào giữa người Việt với nhau, gần 40 năm sau chiến tranh, chia cắt , hận thù vẫn cố chấp khư khư ôm “mối thù truyền kiếp” thực ra phần nhiều do tình thế lịch sử chiến tranh Việt Nam của Mỹ gây nên.

Có lẽ nào người Việt mãi mãi không thể ngồi chung một bàn, ngồi chung một chiếu, cùng nhìn về tương lai con cháu mình mà bàn thảo chuyện làm sao cho nước cường, dân thịnh, với tinh thần hòa giải hòa hợp dân tộc đúng nghĩa nhất của bốn chữ hòa giải hòa hợp?

Nghĩ tới tình thế đất nước đang đứng trước bao nhiêu thử thách ,nguy cơ mà nguy cơ lớn nhất là tụt hậu, yếu nhược so với khu vực và thế giới phát triển, trước mọi áp lực hữu hình và vô hình tứ phía, ai cũng mong hòa giải hòa hợp ở thời điểm này không còn là tiếng hú giữa sa mạc, tiếng gọi đò sông Cái vô vọng nũa! .

Từ trong sâu thẳm tâm thức người Việt, đấy chính là tiếng gọi bầy, tiếng gọi đàn chim Việt bay muôn phương trở về “địa chỉ Việt” trong chính trái tim của họ. Bởi một lẽ hiển nhiên, không còn cách nào khác ,không có con đường nào khác dẫn tới một tương lai tươi sáng hơn xứng đáng hơn với người Việt, dù họ ở trong hay ngoài nước . / .