Nhà văn Việt Nam: Đổi mới và hội nhập

Tác giả: Tô Nhuận Vỹ

KD: Mình nhận được bài viết này từ nhà báo Võ Văn Tạo.

Văn chương và các nhà văn vốn là những “đối tượng nhạy cảm” trong mắt các nhà quản lý xã hội. Bởi văn chương đích thực luôn có sức mạnh của những đoàn quân. Và “người cầm bút tài năng và công tâm, có uy tín lớn thì ở xã hội văn minh phương Tây, được coi là một thể chế” (Lời của nhà thơ Việt Phương).

Nhưng mình vẫn nghĩ, sự thuyết phục các nhà quản lý XH lắng nghe, là người ta đọc thấy ở đó trách nhiệm công dân, động cơ trong sáng, và mong muốn xây dựng một xã hội tốt đẹp, tử tế. Nói như nhạc sĩ Trịnh Công Sơn “sống trong đời sống, cần có một tấm lòng”. Nhưng không phải “để gió cuốn đi”, mà là để… cuốn XH vào những thang bậc giá trị văn minh, văn hóa, có đạo lý.

Cho con người sự bình an trong tâm hồn…

QTXMBạn đọc thân mến. NXB Tri Thức chỗ anh Chu Hảo vừa ấn hành cuốn sách mới của nhà văn Tô Nhuân Vỹ có đầu đề rất luận bàn : BẢN LĨNH VĂN HÓA. Đây là những vài viết, tiểu luận nhà văn viết trong nhiều năm qua, rất tâm huyết, gửi NXB nào họ cũng “sợ”, may có TRi THức cuốn sách mới đến với bạn đọc. Sau đây xin trích phần chính nhất của cuốn sách. Bạn đọc có thể nhận ra ở đây một Tô Nhuận Vỹ sắc sảo, dũng cảm và tâm đắc. 

Nhà văn Việt Nam: Đổi mới và Hội nhập

 3. Văn học trước thách thức tụt hậu

…..Về văn học, nhà thơ Kevin Bowen, Giám đốc Trung tâm William Joiner, Trung tâm đã có quan hệ  với Hội Nhà văn và nhiều nhà văn tiêu biểu của Việt Nam trong hai chục năm qua, khi trả lời tôi về vấn đề dân chủ trong văn học Việt Nam, anh nói ngay: “Có dân chủ hơn thời kỳ 1988-1992 (thời kỳ mà anh cho rằng có những tác phẩm xuất sắc nhất sau năm 1975 – TNV), nhưng để có tác phẩm hay lại là chuyện  khác!”.

 Nhưng trong sự đổi thay còn chừng mực đó,  mươi năm trở lại đây, văn học Việt Nam bỗng như “phanh kít” lại, mà nhiều ngườì dè dặt hơn nói là “chững lại”. Dừng lại trong lúc chung quanh người  ta đi tới thì gọi là tụt lại, là tụt hậu chứ còn gọi thế  nào nữa. Tuy năm này năm kia vẫn có những tập sách đọc được nhưng không có những cuộc tranh luận thẳng vào những vấn đề gay gắt nhất của đời sống văn học, những tác giả và tác phẩm có tính “khai phóng” tác động mạnh mẽ đến khát vọng vươn lên của xã hội như hơn mười năm trước. Không nhìn thẳng vào sự thật này thì sự tụt hậu sẽ còn tụt dài và tụt xa nữa. Vài dẫn chứng cho nhận định này của chúng tôi.

Về chất lượng tác phẩm, trước Đại Hội Nhà văn lần thứ 7 vừa qua, Nguyễn Duy đã phản ảnh đúng suy nghĩ của nhiều người khi nói: “Chúng ta đang có một thực tế văn chương rất mâu thuẫn. Những cái cũ kỹ giáo điều thì vẫn cũ kỹ giáo điều như cũ, người đọc chán rồi, không muốn tiếp nhận nữa. Mặt khác, lại xuất hiện những cái xa lạ, những cái u ơ, ú ớ, ù ờ thần kinh, người đọc không thể tiếp nhận nổi. Cả hai thái cực ấy làmngười đọc vừa chán ngán, vừa lo ngại. Người ta ít quan tâm đến văn học đến mức tôi có cảm giác người ta chả cần nhà văn nữa” 1

 Trong tổng kết “Văn học 5 năm đầu thế kỷ” củaBan chấp hành Hội Nhà văn trình bày tại Đại hội, đã phải công nhận một thực trạng: “Văn học ta tiếp tục có những tác phẩm hay nhưng đó là những cái hay theo những kiểu dạng đã từng có, đã quen thuộc, còn ít những cái hay chưa từng có, khác thường, có tính mở đường”, trong lúc “thị trường văn học tiếp tục bị thu hẹp, văn hoá đọc chưa lấy lại đà phát triển của nó trước sự lên ngôi của văn hoá nghe nhìn” và chính thực trạng đó khiến xã hội mất lòng tin vào nhà văn. “Nhà văn vốn đã cô đơn, ngày nay càng cảm thấy cô đơn hơn trước dòng thác của các cuộc tìm kiếm lợi ích.” Trong một cuộc trao đổi với tôi trước Đại Hội Nhà văn lần thứ 7, nhà thơ Hữu Thỉnh, Tổng thư ký Hội khoá 6 (và nay là Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam khoá 7) đã nói một cách khẳng định và văn hoa về chất lượng hạn chế của tác phẩm văn học thời gian qua là “độ kết tinh chậm” và nhà văn đang “thiếu khát vọng sáng tạo”để vượt qua các trở lực khách quan và trở lực trong chính mình.

 Tôi đồng ý với Hữu Thỉnh là thiếu khát vọng cao cả về Chân-Thiện-Mỹ thì nhà văn không thể có được tác phẩm hay về con người. Nhưng đó chỉ mới nói về yếu tố chủ quan của nhà văn. Đó là yếu tố cần nhưng chưa đủ. Yêu cầu khách quan cần thiết, quan trọng nhất đối với nhà văn, tôi tin rằng Hữu Thỉnh cũng hiểu như tôi, nhưng anh không nói tới, là dân chủ dành cho sáng tạo văn học đã thay đổi quá chậm, có thể nói là lĩnh vực thay đổi chậm  nhất so với nhiều lĩnh vực đã thay đổi ở Việt Nam trong thời gian qua. Tưởng đã xa rồi cái thời còn ấu trĩ học theo Trung Quốc “chống phái hữu” khiến bao tài năng tâm huyết văn nghệ tan nát sự nghiệp và cuộc đời trong vụ Nhân văn Giai phẩm, tưởng đã xa rồi cái thời mới chạm tới tự do sáng tạo và bày tỏ sự ủng hộ sáng tạo ở một số tác phẩm mới mà Nguyên Ngọc và chúng tôi đã bị cách chức, vậy mà mới bước vào thế kỷ XXI, đã có “vụ” Bùi Ngọc Tấn, “vụ” Nguyễn Khải, “vụ” Nguyễn Huy Thiệp cũng với những cái mũ từ nửa thế kỷ trước chụp xuống đầu nhà văn: bôi nhọ chế độ, bôi nhọ nhân dân…!

 Trong một lần ngồi ăn sáng với Nguyễn Quang Sáng ở một nhà vườn trên đường Võ Thị Sáu, anh nói với tôi bằng cái giọng “rất Nam Bộ”:“Mày hỏi về dân chủ trong văn học hả? Theo tao, có tiến bộ. Ngày trước cho dù trong bụng rất thương nhưng không ai dám tới gần, có khi tránh mặt luôn, nếu thấy mấy cha Nhân văn Giai phẩm. Bây giờ, sách của Bùi Ngọc Tấn vừa bị tịch thu, chả đang bị kêu lên gọi xuống, nhưng tới Đại Hội Nhàvăn, anh em vẫn xúm xít vui vẻ với chả, chẳng sợ ai ráo! Hoặc ngày trước báo Nhân dân đăng bài khen chê cuốn sách nào thì các báo lo mà có bài khen chê theo. Bây giờ thì khác rồi: Mày là mày, tao là tao!” –

 Nguyễn Quang Sáng trầm ngâm, như chia sẻ những suy nghĩ của tôi – “Nhưng chậm quá, quá chậm! Đến như cha Nguyễn Khải mà còn bị nhấc lên đặt xuống thì bao giờ mới có cởi mở, mới có dân chủ thực sự  cho mọi nhà văn? Khi biết tao sẽ viết về Huỳnh Phú Sổ, ông Võ Văn Kiệt nói sao mày biết không? Ổng dặn ‘Viết cho kỹ nha. Đúng thì nói đúng, sai thì nói sai. Thua thì nói là thua, thắng thì nói là thắng, chứ  chẳng lẽ cứ thắng hoài!’ Có nghĩa là sao? Chính ổng  cũng ngán cái kiểu viết ta thì chỉ có thắng, địch chỉ có thua! Mày biết vì sao có những tay cựu chiến binh  Mỹ viết về chiến tranh hay hơn nhiều anh em mình  không? Nó THỰC và DÁM viết.”

 Bùi Ngọc Tấn vừa có phát biểu nhân cuốn Rừng  xưa xanh lá vừa được giải thưởng năm 2004 của Hội Nhà văn: “Được giải tôi rất vui. Niềm vui của tôi chủ  yếu ở chỗ việc trao giải cho tôi thể hiện cái nhìn cởi  mở hơn về nhân thân tác giả, sự công nhận những  mảng đời sống khác của hiện thực” 2

 Hai mươi sáu năm sau, đọc lại “Đề dẫn” vẫn  thấy cái mới, cái mạnh của nó. Nó mới và mạnh so  với chính báo cáo chính thức tại Đại Hội Nhà văn lần thứ 7 vừa qua. Nó mạnh và mới bởi những vấn đề  căn cốt nhất mà nó dũng cảm đề cập tới chính là vấn  đề cốt tử của sự tồn tại và phát triển của nền văn học: tự do cho tìm tòi sáng tạo, phải “bảo hiểm”,  động viên nhà văn phản ảnh những đau khổ của  con người, lên án mạnh mẽ những quan niệm cũ kỹ

đã trói cả một nền văn học trong nhiều năm tháng… Những điều đó được đề cập mờ nhạt, hoặc tránh né,  trong báo cáo gần 30 năm sau.

 Tổ chức của Hội Nhà văn vẫn giữ nguyên mô  hình và hoạt động của 50 năm trước. Bình thường thì tổ chức nhà văn là tổ chức cần và có thể xã hội  hoá mạnh và sớm nhất. Tuy nhiên, do đặc điểm  phải tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc và  tiến hành hai cuộc chiến tranh giành độc lập và  thống nhất đất nước, Hội Nhà văn từ lâu đã là một  thành viên của tổ chức cách mạng, nên việc “bao cấp” cho hoạt động của Hội là tất nhiên và bình  thường. Nhưng, sau chiến tranh, việc duy trì nửa  thế kỷ “bao cấp”, “bao cấp” từ biên chế, lương tiền, kính phí bình thường và các giải thưởng, cả tiền ăn ngủ bồi dưỡng lúc ngồi sáng tác, lo cho từ nhà cửa, xe cộ cho đến hệ thống chức quyền nhà văn, “lo” luôn cả chuyện ai vào Ban chấp hành, ai giữ ban này bệ nọ của Hội, đúng là “bao trọn gói”… Lâu rồi, chính Hội cũng luôn chờ đợi những thứ, những cung cách “bao cấp” đó mà không có ý tưởng và  quyết tâm bằng chính từ sức mình để tồn tại và  trưởng thành. Chẳng khác nào một người con đã ba bốn mươi tuổi, lại đã có vợ có con rồi mà cứ đèo  queo ở với cha mẹ, cái gì cũng chờ cha mẹ lo cho chứ không chịu ra ở riêng, không chịu bươn chải lo tự làm ăn đủ nuôi mình, nuôi vợ con và còn đến lúc nuôi lại bố mẹ nữa chứ. “Bao” đến như thế thì, nếu  Nhà nước, hoặc chỉ một cơ quan của Nhà nước

ngang cấp mình thôi, thậm chí dưới cả cấp mình, có điều gì không đúng, thậm chí làm sai, đối với hoạt  động sáng tạo, thì làm sao mà còn dám nói lên tiếng  nói trung thực để bảo vệ ý tưởng tốt, nếu có, của  mình và bảo vệ khát vọng sáng tạo của nhà văn vào lúc gay cấn nhất và vào lúc các nhà văn cần đến tổ  chức nghề nghiệp của mình nhất? Chính vì vậy,  không ít hội viên có đề nghị giải tán Hội Nhà văn đi.

 4. Thay đổi gì?

 Trong những dịp tâm sự riêng lẻ cũng như trên  không ít diễn đàn công khai, những gì cần thay đổi  để văn học Việt Nam có một chân dung sáng sủa  hơn, để có những tác phẩm có giá trị hơn, thực ra  không khó để nhận thấy mà đã quá rõ ràng.

 a. Thực hiện dân chủ và ủng hộ khát vọng trong sáng  tạo của nhà văn . Tôi, Phạm Xuân Nguyên và Nguyễn Huy Thiệp  đã có một cuộc chuyện trò khá lâu và vui vẻ về hai  nội dung này tại nhà riêng của Nguyễn Huy Thiệp  trong một cái ngõ rất lắt léo mạn Khương Hạ. Chúng tôi vừa lai rai rượu Tây với mấy món ăn do  Thiệp vừa đi chợ về và tự tay nấu nướng vừa bàn  thảo rôm rả. Dĩ nhiên Nguyên luôn là anh chàng  sôi sục, Thiệp thì từ tốn nói và cười mỉm, thỉnh  thoảng “đá” vào vài tiếng nói lắp “làm duyên”,  nhưng cả hai đều quyết liệt và rõ ràng. Chúng tôi  đều thấy rằng, dân chủ là điều kiện quan trọng số  một để có tự do sáng tạo của nhà văn và từ đó, mới  có thể có những tác phẩm phản ảnh đúng thực  trạng xã hội, phản ánh đúng số phận và khát vọng  của con người. Đối với những nhà văn có tài thì  điều đó vẫn rất quan trọng bởi vì những tìm tòi  sáng tạo của họ thường rất dễ vượt ra ngoài khuôn khổ áp đặt của những tư duy chật hẹp. Tôi cho  rằng, đỉnh núi là nơi cao nhất không dễ ai cũng leo  lên được, nhưng cũng là nơi bắt đầu của cái đà lao xuống vực thẳm, mà khoảng cách của hai thái cực  này nhiều lúc chỉ là vài ba mét vuông trên đỉnh núi  đó. Người giám khảo giỏi phải có chỗ đứng cao hơn  đỉnh núi hoặc chí ít cũng ngang đỉnh núi để có thể  nhìn thấy kỷ lục này mà trao giải vô địch cho người leo núi kia. Nhưng nếu đứng thấp, thậm chí quá  thấp, thì không thể thấy được kỷ lục vừa lập mà nguy hiểm hơn, lại cho rằng người leo núi đã bắt  đầu lao xuống vực. Thiệp cười hì hì rồi lấy một ví dụ nữa rất hay: Cái thằng cầu thủ giỏi, có kỹ thuật  khéo léo mới hay dẫn bóng chạy vù vù nơi đường  biên, là nơi đối phương dễ nhầm là bóng đã ở ngoài sân, chỉ cần đối phương chần chừ một vài giây là  chết mẹ với nó rồi, nó a lê kéo bóng tuốt xuống và  tạt vào cầu môn! Lúc ấy mà tay trọng tài gà mờ cứ  thấy bóng mới chạm tới đường biên, chưa qua nửa  vạch, mà đã cho rằng bóng đã ở ngoài sân, lập tức toét còi thì giết chết hết mấy thằng “siêu” này rồi  chứ gì nữa! Chúng tôi thử nhẩm sơ qua những nhà văn bị “trọng tài” thổi còi, từ “nhắc nhở” cho đến thẻ vàng, thẻ đỏ và sau đó còn có người bị treo giò  vài ba trận, thậm chí treo giò cả đời thì thấy ôi chao!

 La liệt người tài trong số đó: Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Văn Cao, Hữu Loan, Phùng Quán, Nguyền Đình Thi, Nguyễn Công Hoan, Hà Minh Tuân, Nguyên Ngọc, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Bùi Ngọc Tấn, Hoàng Ngọc Hiến, Lại Nguyên Ân, Nguyễn Duy, Phạm Tiến Duật, Tô  Nhuận Vỹ, Trần Vàng Sao, Thanh Thảo, Bùi Minh  Quốc, Phạm Thị Hoài, Dương Thu Hương, Nguyễn \Trọng Tạo, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Xuân  Nguyên, Tạ Duy Anh… Tôi nhớ anh Nguyễn Minh Châu kể câu chuyện có một nhà văn đàn anh nâng  chén rượu lên giữa đám đàn em: “Tao còn sống, còn cầm bút được đến bây giờ là nhờ biết sợ!”. Nói  rồi ngửa mặt lên trời cười rung giường, nước mắt  tuôn lã chã, giọt đổ xuống đất, giọt đổ vào lòng! Và Nguyễn Minh Châu, con người vốn ít nói, ít to  tiếng đã phải kêu lên: “Tôi cũng phải nói rằng, sự  độc đoán và chế áp của lãnh đạo văn nghệ trong nhiều năm qua đã khiến cho những nghệ sĩ chân chính luôn luôn gắn bó với cách mạng, với Đảng, suốt đời cảm thấy phạm tội” 3.

  Nguyên Ngọc cũng chua xót: “Đọc Pasternak, tôi  thấy bi kịch Zhivago vẫn là của một người đứng  ngoài, đứng trên cả nước Nga mà đau. Còn bi kịch  của tôi: một người trong cuộc, đảng viên, cầm súng, nhiệt tình xây dựng chủ nghĩa xã hội mấy mươi  năm. Thế mà tại sao tình yêu của chính mình lại bị  dày đạp đến như vậy.”4

 Những người đau đớn như thế, biết bao nhà văn  như thế, toàn là người tử tế cả. Đã là nhà văn chân  chính có ai không yêu đất nước, không yêu nhân dân, không tôn trọng sự thực, không trọng lẽ công  bằng, có ai không tử tế (Đạo diễn Trần Văn Thuỷ, tác  giả phim xuất sắc Chuyện tử tế cũng nhiều lần bày tỏ  với tôi suy nghĩ này). Thậm chí có người tốt đến mức  “không chịu được”. Như Phùng Quán chẳng hạn.  Tôi muốn nhân dịp này công bố một câu chuyện “tốt  không chịu được” của anh, qua một bức thư anh gửi tôi. Chỉ có thể trích nguyên văn, để nguyên cả  những chỗ sai chính tả, một số đoạn trong lá thư dài  mười bốn trang viết bằng bút lá tre, chấm mực xanh  Hồng Hà mà nay đã trở màu đen, trên giấy làm đâu  miệt Thuỵ Khuê, vàng khè:

 Hà Nội đêm cuối thu 84,

 Tô Nhuận Vỹ thân,

Tôi nhận được thư Vỹ, đã hai lần tôi viết thư trả lời,  nhưng đọc lại tôi lại xé đi. Vì muốn trả lời một bức thư  như vậy thật không đơn giản chút nào. Vì tôi nghĩ đó  không chỉ thuần là một thư của tình bạn, mà còn là bức  thư của một nhà văn gửi cho một nhà văn…

 Anh trả lời bức thư đề nghị anh cho phép phục  hồi bút danh Phùng Quán trên tạp chí Sông Hương trước đó của tôi. Trước khi viết bức thư đề nghị  này, tôi vừa đọc xong tập truyện Dũng sĩ Chép Còm mà anh ký tên là Trần Vĩ Dạ, do Nhà xuất bản Trẻ  ấn hành. Anh tặng Tô Diệu Lan, là con gái thứ hai  của chúng tôi, nhân ngày sinh của cháu, với lời đề  “Thân yêu tặng cháu Diệu Lan cuốn sách quý nhất đời  của bác”. Tôi đọc cuốn sách với cái tên Trần Vĩ Dạ  mà lòng đau như cắt. Tôi viết bức thư và tin rằng  anh sẽ đồng ý bởi không khí đổi mới đã bắt đầu cựa quậy trong xã hội, bởi vì đó là một điều tuyệt vời  đối với Sông Hương nhưng cũng là chuyện tốt đẹp  đối với cái tên anh đã bị chôn vùi mấy chục năm  trời chỉ vì những vần thơ gan ruột và nghĩa khí của anh. Vậy mà anh từ chối!

Ba mươi năm đã trôi qua. Biết bao nhiêu sự kiện đã  rêu phong. Và tôi cũng không còn được chính quyền của  Đất nước (mà tôi đã hiến dâng cả tuổi trẻ và cả máu để  góp phần nhỏ bé xây dựng và bảo vệ) coi tôi là nhà văn.  Tôi đã bị “tướt quyền viết văn” (tháng 3/1958 Hội Nhà  văn quyết định khai trừ tôi vĩnh viễn tôi khỏi Hội Nhà văn) từ khi tôi mới hai mươi bốn tuổi đầu – đến nay tôi đã năm mươi tư tuổi rồi 15. Tôi chắc Vỹ hiểu còn hơn cả

tôi, ở đất nước ta bị khai trừ vĩnh viễn khỏi Hội Nhà văn,  thì một nhà văn sẽ rơi vào một hoàn cảnh bi thảm như  thế nào. Vì mặt trận văn nghệ là một trong những mặt trận được chuyên chính nghiêm nhặt nhất. Tôi vẫn ví  nhà văn là một cầu thủ đá bóng. Và cả Đất nước chỉ có  một sân cỏ mà thôi – đó là Hội Nhà văn Việt Nam. Vỹ thử tưởng tượng một cầu thủ bị đuổi khỏi sân cỏ suốt ba  mươi năm – thì cầu thủ đó sẽ hoá thành người như thế  nào? Sau ba mươi năm, nếu cầu thủ đó không quên quả  bóng đã là chuyện lạ. Và nếu anh ta không còn đá được  nữa thì lỗi đó thuộc về ai?… Tôi rất xúc động trước tình âu yếm của bạn bè, đặc biệt là với các anh chị ở Tạp chí  Sông Hương muốn in thơ tôi với cái tên Phùng Quán“trở lại với làng văn”. Nhưng mong các bạn hiểu cho tôi.  Năm nay tôi đã năm mươi tư tuổi. Tôi đã đi gần trọn  một đời văn. Tôi không muốn thêm gì và bớt gì (Phùng Quán gạch chân bốn chữ thêm gì và bớt gì – Tô Nhuận Vỹ) những gì tôi đã làm, đã viết. Tôi không thuộc vào loại các nhà văn cùng thế hệ và tuổi tác với tôi,  bằng mọi cách và mọi giá, đeo đẳng cho bằng được cái tên  mình trên báo, trên sách…

 

… Nước Sở có người họ Hoà, được một hòn ngọc ở  trong núi, đem dâng vua Lệ-vương. Vua sai thợ ngọc xem,  thợ ngọc nói “Đó không phải ngọc”. Vua cho người họ Hoà  nói dối, sai chặt chân trái. Đến khi vua Vũ vương nối ngôi, người họ Hoà lại đem ngọc ấy dâng. Vua sai thợ ngọc xem. Thợ ngọc nói “Đó không phải ngọc”, vua lại cho họ Hoà là nói dối, sai chặt nốt chân phải. Đến khi vua Văn  vương lên ngôi, người họ Hoà ôm hòn ngọc, khóc ở chân núi Sở-sơn suốt ba ngày ba đêm đến chảy máu mắt ra. Vua thấy thế sai người đến hỏi. Người họ Hoà thưa: “Tôi  khóc không phải vì hai chân tôi bị chặt, chỉ thương vì nỗi ngọc mà cho là đá, nói thật mà cho là nói dối”. Vua bèn sai người xem lại cho kỹ, thì quả nhiên là ngọc thật, mới đặt tên ngọc là “ngọc bích họ Hoà”. Mỗi nghệ sĩ chân chính đều có một “ngọc bích họ Hoà” của mình để dâng hiến cho Đất nước, Nhân dân. Nhưng tôi vô cùng hối hận là đã không đủ lòng tận trung như người họ Hoà để dâng “ngọc bích” của mình lên Đảng, cho đến lúc được nhận ra không phải đó mà ngọc thật (Phùng Quán sót mấy chữ là ngọc giả) 5.

 Lê Đạt kể lại rằng, Hội Nhà văn khai trừ ra khỏi Hội ba năm đối với các anh Trần Dần, Lê Đạt, Đặng Đình Hưng, Tử  Phác; hai năm đối với Hoàng Cầm; một năm đối với Phùng  Quán. Có lẽ 30 năm mà anh Phùng Quán nói ở đây là 30 năm bút danh Phùng Quán không được xuất hiện trên văn đàn (http://www.hopluu.net/HL81/thuykhue-ledat.htm)

 

 Người như thế, người “yêu Đảng hơn cả Đảng” như thế mà bị chà xát mấy chục năm trời, ôi chao ôi là trời!

 

Vừa qua, Giải thưởng Nhà nước đã được trao cho Phùng Quán, Hoàng Cầm, Lê Đạt. Tôi cho rằng  chậm còn hơn không. Nhưng có một cái gì không đàng hoàng, thật ú ớ trong chuyện này. Không một  lời nào, không một câu nào, dù ở đâu đó, dù của một  ai “bán chính thức” đó, ngay như của chỉ Hội Nhà văn, rằng đối xử trước đây đối với họ là SAI, là SAI  LẦM. Không. Không một lời. Không một ai. Nói như  Nguyễn Trọng Tạo: “Họ không sửa sai. Tức là họ nói: chúng tôi không sai. Nhưng chúng tôi tặng thưởng. Như thế là một nhà nước không đủ can  đảm để nói lên một sự thật. Không sòng phẳng…”6

. Dĩ nhiên, “chưa có một nhà văn nào trên thế giới tuyên bố rằng mình hoàn toàn tự do… Ở các quốc gia dân  chủ phương Tây người ta cũng chất đầy ngăn kéo những  trang không được xuất bản” như Phạm Thị Hoài khẳng  định 7. Nhật Tiến cho biết, trong một lá thư gửi từ trong nước, một nhà văn hỏi anh “ở hải ngoại các  anh đã thực sự có tự do cầm bút hay không?”, Nhật  Tiến trả lời: “Tôi thấy rõ người cầm bút ở đây chưa  thực sự có tự do cầm bút”8. Để minh chứng cho câu trả lời, Nhật Tiến đã mô tả những giới hạn của cộng đồng hải ngoại bị chi phối bởi những thành kiến, những quan điểm chống cộng hẹp hòi mà không  nhìn đến thực trạng của quê hương.

 

Ngay như ở nước Mỹ, một người bạn nghiên cứu văn hoá lâu năm nói với tôi, có tự do sáng tác không có nghĩa là có cùng cơ hội được các cơ sở truyền thông “chính luồng” (mainstream) chú ý và thông tin  quan điểm của mình. Lấy tỷ dụ trường hợp của J. P.  Sartre và Noam Chomsky. Có thể nói cả hai đều là những đại trí thức cấp tiến trong xã hội mình đang sống, phê bình nặng nề chính sách nhà nước, được  cả thế giới ngưỡng mộ và lắng nghe. Nhưng Sartre thời đó được báo chí và xã hội Pháp trân trọng tham khảo trong khi Chomsky hoàn toàn bị giới truyền thông “chính luồng’’ ở Mỹ tẩy chay. Chúng ta có thểcó tự do sáng tác, tự do ngôn luận, nhưng nếu các cơ sở truyền thông đại chúng – báo chí, truyền thanh, truyền hình, v.v… – đều do một nhóm tài phiệt  khổng lồ làm chủ, thì những quan điểm “ngược

dòng’’ sẽ hoàn toàn bị bỏ quên, hoặc vô hiệu hoá. Những tiếng nói đó sẽ không có người nghe, trở  thành những tiếng vang vọng trong sa mạc. Người bạn tôi coi đó là một thứ kiểm duyệt cực kỳ tinh vi,“kiểm duyệt phi kiểm duyệt”, một loại cơ cấu vô  chiêu của chủ nghĩa đại công ty trị (corpocracy).

 

Và, tất nhiên, không phải cứ có tự do (khái niệm  như nhiều nhà văn trong và ngoài nước quan niệm  hiện nay) thì lập tức nhà văn đã có thể sáng tạo ra những tác phẩm xuất sắc. Tôi nhớ chuyện Thái Bình. Trong những buổi chuyện trò thân tình với nhà văn Đức Hậu, người đã làm Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật mười mấy năm ở đây, anh cho biết, sau những  vụ biểu tình, đấu tranh quyết liệt của nhân dân chống bọn tham nhũng và ức hiếp nhân dân, đã  từng có xu hướng đổ tội, đổ nguyên nhân của sự vụ  cho “bọn phản động”, nhưng Trung ương khẳng định đó là do hàng ngũ cán bộ đã bị tha hoá, do nội bộ gây ra. Nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười về họp với lãnh đạo Thái Bình và ông đã phẫn nộ: “Những  người đã cõng tôi qua sông khi Tây vây tứ bề, đã có  hàng vạn đứa con là thương binh, liệt sĩ trong hai  cuộc kháng chiến mà là địch à? Các anh ức hiếp, chà đạp người ta quá trời, ai mà chịu nổi!” Ông phẫn nộ  với đại ý như thế. Viết về vụ đó, nguyên Tổng Bí thư  đã “bật đèn xanh” như thế… vậy mà mấy năm đã  qua, chưa có một tác phẩm nào hay về cuộc đấu  tranh này của nhân dân Thái Bình. Cũng vào hôm làm việc với Hữu Thỉnh, anh kể chuyện tiếp nữ Chủ  tịch Hội Nhà văn Rumania. Bà ấy nói: “Khi đang còn chế độ độc tài Ceaucescu vẫn có những tác phẩm  xuất sắc như Nông dân, Giờ thứ 25 (Gheorghiu), còn bây giờ đã được tự do hoàn toàn lại chưa có những  tác phẩm gần như thế.”  Điều đó vẫn đúng ngay ở các nước mà nền dân  chủ đã phát triển cao. Chị Thụy Khuê, một cây bút  phê bình sắc sảo và hiểu biết nhiều tình hình văn  học trong và ngoài nước, đã cho rằng một trong hai  nhược điểm của văn học hải ngoại là: “… Chưa có thành tựu khai phá, những chân trời nghệ thuật mới… Sự tiếp xúc với văn hoá Âu Mỹ dường như chỉ mới rất hình thức… Không có  một phong trào như Tự Lực, như Sáng Tạo. Giá trị đổi mới văn thơ trong khoảng hai mươi năm gần  đây đến từ những tác giả trong nước: cựu Nhânvăn như Trần Dần, Lê Đạt, Đặng Đình Hưng…, hoặc trẻ hơn như Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài.”9

 Chúng tôi muốn nói rằng, theo chúng tôi, bên  cạnh tự do sáng tạo, nhà văn còn cần bản lĩnh, khát  vọng. Không có bản lĩnh và khát vọng (trong bản lĩnh bao hàm cả tài năng) thì, như “con gà công nghiệp”, mở chuồng cho tự do ra ngoài vẫn cứ “tự giác” luẩn quẩn quanh cái chuồng cũ kỹ. Về điều  này, Phạm Xuân Nguyên cũng đã viết:  “Nhiều người đã nói đến sự cấm đoán, bắt bẻ, kiểm soát từ trên xuống đối với những người viết. Nhưng có phải vì thế mà người cầm bút lại cho mình  ‘được hèn’ để viết xuôi chiều, dễ dãi không?…Ngẫm cho kỹ, toàn bộ tác phẩm Nam Cao viết về  người trí thức cũng chỉ xoay quanh một chủ đề duy  nhất là căn bệnh ‘mình tự làm hèn mình’ của tầng  lớp này… Vấn đề ở đây là bản lĩnh và tầm vóc của  người cầm bút, tức là nội lực chủ động của anh, chứ  không phải cứ thụ động ngồi chờ cái “hích” từ bên ngoài rồi khi được thì hoan hỉ tâng bốc, khi không được thì trách móc đổ lỗi.”10

———————

Chú thích :

 1 Nguyễn Duy, Trả lời báo Thanh niên trước Đại Hội Nhà văn lần thứ 7, http://vietbao.vn/Van-hoa/Khi-nha-van-tu-hoi-chinh-minh/40074698/105/.

2 Bùi Ngọc Tấn, Trả lời báo Thanh niên ngày 8/5/2005.

3 Nguyễn Minh Châu, “Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh hoạ”, Văn nghệ số 49-50, 5/12/1987.

4 “Gặp gỡ Nguyên Ngọc”, Sông Hương số tháng 6/1989.

5Phùng Quán, Thư gửi Tô Nhuận Vỹ, cuối thu 1984.

6 “Mừng vui còn có hôm nay”, Talawas ngày 7/6/2007,http://www.talawas.org/talaDB/SôngHươngowFile.php?res=10124&rb=0101

7 Phạm Thị Hoài, “Hợp đồng ngầm với các con chữ”, http://www.nhanvan.com/phongvan/pvcuong_hoi_pthoai.htm

8 Nhật Tiến, Trả lời tại Washgington ngày 11/10/1985.

9 Thụy Khuê, “Thử tìm một lối tiếp cận văn học sử: hai mươi

nhăm năm văn học hải ngoại 1975-2000” http://dactrung.net/baiviet/noidung.aspx?BaiID=Fw9VtoP4V8jqlObmtJfM9w%3d%3d.

10 Phạm Xuân Nguyên, “Cái hèn của người cầm bút”, Sông Hương số 31.

———-

Nguồn: http://ngominh.vnweblogs.com/post/2246/451435