Miền quê quan họ

Tác giả: Tiến Hải

KD: Cảm ơn nhà báo Tiến Hải đã gửi bài viết này, xin đưa lên Blog để bạn đọc được thư thái chút ít giữa những ngày căng thẳng tâm lý, vì phẫn nộ trước chủ quyền dân tộc bị xâm lấn và khiêu khích.

Quan họ cũng là loại hình dân ca mình mê từ thời trẻ. Và cho đến giờ, mỗi lần nghe QH, là mình lại thừ người để nghĩ, nhớ lại những lề thói, tập tục của làng QH, giữa các liền anh, liền chị, trong những cuốn sách mình tìm đọc.

Nhưng cũng vì thế, không hiểu sao mình cảm giác nhiều làn QH buồn, nỗi buồn da diết của con tim quyến luyến, của sự gặp nhau rồi lại phải đợi chờ “đến hẹn lại lên”

————

Nền nghệ thuật hát dân ca quan họ được nảy sinh và phát triển trên miền đất Kinh Bắc nghìn năm văn hiến . Nơi đây , ta thường bắt gặp hình ảnh : những mái chùa , những mái đình rêu phong cổ kính nép mình dưới gốc đa cổ thụ đã trăm năm tỏa bóng mát ; những cánh cò trắng trông như một dải lụa mềm bay lơ đãng trên các cánh đồng lúa vàng trĩu hạt chạy xa tít tắp tận cuối chân trời ; những cánh diều no gió bay lượn thư thái trong ánh chiều tà ; những dòng sông hiền hà êm ả trôi , in bóng những hàng tre xanh mát rượi …Tất cả , tất cả những cảnh sắc thiên nhiên trữ tình đó đều thấm đượm trong các làn điệu dân ca quan họ .


Con người Kinh Bắc trong những ngày hội quan họ thường bỏ đi cái bản thể nhỏ bé của mình để đến với nhau bằng tất cả tấm lòng nhân ái , rộng mở , chan hòa yêu thương . Và , khi trở về với đời thường , những liền anh , liền chị đã để lại trong nhau biết bao tình cảm nhung nhớ , bâng khuâng , khắc khoải đợi chờ , hẹn ngày gặp lại .

“Quan họ Bắc Ninh” là cách nói quen thuộc . Cách nói đó đúng và chính xác nhưng chưa đầy đủ . Bởi vì quan họ là những làn điệu dân ca của cả vùng châu thổ sông Hồng rộng lớn mà trung tâm là vùng văn hóa Kinh Bắc bao gồm hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang cũ . Vì thế nếu nói thật đầy đủ và chính xác thì phải nói là “dân ca quan họ Kinh Bắc”.
Nói dân ca quan họ Bắc Ninh không có nghĩa là tách Bắc Ninh ra khỏi Bắc Giang ; không có nghĩa là chỉ ở Bắc Ninh mới có dân ca quan họ , còn Bắc giang thì không . Theo các tài liệu khảo sát , thống kê thì Kinh Bắc (Bắc Ninh + Bắc Giang) có tất cả 67 làng quan họ gốc ; trong đó Bắc Giang 23 làng , Bắc Ninh 44 làng . Các làng quan họ Bắc Ninh tồn tại nhiều ở các huyện Tiên Du , Yên Phong , thị xã Từ Sơn và thành phố Bắc Ninh (còn gọi là quan họ bờ nam sông Cầu) . Các làng quan họ Bắc Giang tồn tại nhiều ở các huyện Việt Yên , Yên Dũng , Hiệp Hòa (còn gọi là quan họ bờ bắc sông Cầu) .

 

Cần phân biệt quan họ truyền thống và quan họ mới . Quan họ truyền thống là hình thức tổ chức sinh hoạt văn hóa dân gian của người Kinh Bắc . Quan họ truyền thống không có nhạc đệm và chủ yếu là hát đôi giữa liền anh , liền chị vào dịp lễ hội ở các làng quê . Quan họ truyền thống không có khán giả . Người trình diễn đồng thời là người thưởng thức (thưởng thức “cái tình” của bạn hát) . Quan họ mới là hình thức hát quan họ chủ yếu trên sân khấu . Quan họ mới luôn có khán , thính giả . Quan họ mới có hình thức biểu diễn phong phú hơn quan họ truyền thống

Nói tới quan họ dứt khoát phải nói tới văn hóa quan họ . Văn hóa quan họ chủ yếu bao gồm : văn hóa trang phục và văn hóa giao tiếp ứng xử .
Quan họ có trang phục riêng không lẫn vào đâu được . Khi hát quan họ , các liền anh , liền chị phải đặc biệt chú ý tới trang phục của mình . Dù hát hay đến mấy nhưng trang phục không phù hợp thì coi như người hát đã phủ định chính mình .
Trang phục quan họ bao gồm trang phục của các liền anh và trang phục của các liền chị . Liền anh thường mặc áo dài 5 thân , cổ đứng , viền tà , gấu to , dài quá đầu gối . Áo dài của liền anh màu đen , chất liệu là lương , the . Quần của liền anh là quần dài ,trắng ,ống rộng , may kiểu có chân què , dài tới mắt cá chân . Quần thường may bằng vải phin , vải diềm bâu hoặc lụa truội màu mỡ gà ; có thắt lưng nhỏ để thắt chặt cạp quần . Đầu liền anh đội nhiễu quấn hoặc khăn xếp . Các phụ kiện khác của liền anh thường có ô đen , khăn tay trắng bằng lụa , rộng , gấp nếp. Trang phục của liền chị thường được gọi là “áo mớ ba mớ bảy” ; nghĩa là liền chị có thể mặc 3 áo dài lồng vào nhau (mớ ba) hoặc 7 áo dài lồng vào nhau (mớ bảy) . Tuy nhiên , trong thực tế các liền chị thường chỉ mặc áo mớ ba . Trang phục đầy đủ của các liền chị bao gồm : yếm mặc trong cùng . Mặc dù yếm chỉ là đồ lót nhưng có màu sắc rất rực rỡ, thường là màu đỏ (yếm thắm) , hoa hiên , xanh da trời , xanh nước biển , cánh sen…Yếm có hai loại : yếm cổ xẻ (dùng cho trung niên) , yếm cổ viền (dùng cho thanh nữ) . Bên ngoài yếm là chiếc áo cánh màu trắng hoặc vàng , ngà . Ngoài cùng là những lượt áo dài 5 thân , có cài khuy , được may bằng the hoặc lụa . Loại áo mớ ba thì chiếc áo dài ngoài cùng bao giờ cũng có màu sắc rất nền nã (nâu già , nâu non , cánh gián , đen) . Các chiếc áo dài bên trong , màu sắc có thể sặc sỡ hơn (cánh sen , hoa hiên , thiên thanh , hồ thủy , vàng chanh , vàng cốm) . Liền chị mặc váy sồi , váy lụa . Váy bao giờ cũng màu đen . Người biết mặc váy khéo là không để váy hớt trước , không để váy quây tròn lấy người như mặc quần mà phải chú ý sao cho phía trước có hình lưỡi trai rủ xuống gần tới mu bàn chân , phía sau hơi hớt lên ngang tầm với con khoai phía gót chân . Dép của liền chị là dép cong làm bằng da trâu thuộc theo lối thủ công . Ngoài áo , váy , thắt lưng , dép , liền chị còn chít khăn mỏ quạ , đội nón quai thao…
Mặc dù trang phục của liền anh , liền chị quan họ cầu kỳ như thế , song , đó là văn hóa trang phục dứt khoát phải tuân thủ nghiêm ngặt .
Ngày nay ,trang phục quan họ bị người ta sử dụng rất tùy tiện . Nhiều ca sĩ trẻ khi lên sân khấu hát quan họ lại mặc áo phông , quần bò ; có cô còn mặc cả váy ngắn . Đã thế khi hát họ lại còn “giậm chân , nhắm mắt , ngửa mặt lên trời ” như hát nhạc rốc vậy . Mới đây báo chí có đưa tin , trong một chương trình “Bài hát yêu thích” của Đài truyền hình trung ương , nữ ca sĩ trẻ Hà Linh biểu diễn bài hát dân ca quan họ nhưng trang phục của cô lại giống hệt trang phục của những nhân vật trong các bộ phim cổ trang của Trung Quốc . Việc Hà Linh mặc áo Trung Quốc hát quan họ nhận được sự chỉ trích rất nặng nề từ phía khán giả xem truyền hình .
Văn hóa quan họ còn thể hiện ở một nội dung nữa là cách giao tiếp , ứng xử . Cách ứng xử khéo léo , tế nhị , kín đáo là nét rất đặc thù của người quan họ . Mỗi khi có khách đến chơi nhà , người quan họ không chỉ pha trà , rót nước mời khách mà cùng với đó bao giờ cũng là những câu hát thắm đượm nghĩa tình . Thí dụ : “Mỗi khi khách đến chơi nhà / Đốt than quạt nước pha trà mời người xơi / Trà này quý lắm người ơi / Mỗi người một chén cho tôi vui lòng ” . Đến khi khách ra về thì lại tha thiết “Người ơi người ở đừng về” . Gần đây đã xuất hiện tình trạng trong một số lễ hội , người hát quan họ ngồi trên thuyền ở dưới ao hồ ngả nón quai thao tiếp nhận những đồng tiền thưởng của khán , thính giả . Việc làm đó hoàn toàn trái ngược với văn hóa quan họ .

Quan họ bao giờ cũng gắn liền với những nghệ sĩ hát quan họ . Nghệ sĩ hát quan họ là người mang cái hay , cái tinh túy của quan họ tới công chúng . Ngược lại , cái hay , cái tinh túy của quan họ chắp cánh cho các nghệ sỹ hát quan họ bay cao .
Phải thừa nhận bây giờ có nhiều nghệ sĩ trẻ hát quan họ rất hay nhưng vẫn chưa có ai sánh được NSND Thúy Hường và NSƯT Thúy Cải . Mặc dù nhiều giọng ca trẻ đã đạt tới tiêu chí là vang , dền , nền , nẩy . Nhưng cái vang , dền , nền , nẩy của Thúy Hường , Thúy Cải thì người nghe không thể nào quên .
Ngày 30/9/2009 quan họ đã được UNESCO công nhận là di sản phi vật thể . Đây là một vinh dự lớn , đồng thời cũng là một sức ép lớn đối với dân tộc ta . Vì thế ngành văn hóa nên có kế hoạch thật bài bản trong việc bảo tồn và phát triển di sản này ; đồng thời có kế hoạch đào tạo , bồi dưỡng các nghệ sĩ trẻ hát quan họ sao cho có nhiều người bằng hoặc vượt trình độ của Thúy Cải , Thúy Hường . Không có người hát quan họ thì quan họ không thể tồn tại .
Ôi quê tôi – miền quê quan họ ./.