Hà Nội đáng yêu hay đáng… chán?

Tác giả: Đào Dục Tú

.
KD: Hi…hi… Không biết tại sao tác giả Đào Dục Tú có tâm trạng gì mà lại viết bài về HN với câu hỏi: Hà Nội đáng yêu hay đáng chán? Mình tự nhận người HN gốc hẳn hoi, đọc bài này thấy giật mình.

Đáng yêu hay đáng chán, thì HN vẫn là một góc nho nhỏ của bất cứ ai đã từng sống, từng đến, hoặc chí ít đi qua. Đáng yêu hay đáng chán còn tùy thuộc khả năng quan sát, phát hiện ra HN hay hoặc dở, thân thuộc hay xa lạ, tùy góc nhìn, sâu sắc hay thoảng qua….

Cảm ơn anh Đào Dục Tú  😀
Đã thấy có người gợi ý, ngầm nêu câu hỏi dễ gây thành chuyện “nhậy cảm” (lại nhậy cảm): Hà Nội đáng yêu hay đáng. . . ngán, vì sao yêu vì sao chán? Tôi người Hà Nội từ gần giữa thập kỷ sáu mươi thế kỷ trước, nhưng làng tôi thời bấy giờ đúng như câu thơ Tố Hữu: “Dân có ruộng dập dìu hợp tác –Lúa mượt đồng ấm áp làng quê- Chiêm mùa cờ đỏ ven đê- Sớm khuya tiếng trống đi về trong thôn”.

Làng ngoại ô ấy phải vượt qua hai sông, sông Đuống chảy ngang thơ Hoàng Cầm “Có ai về bên kia sông Đuống –Cho tôi gửi tấm the đen. . .” và sông Cái sông Hồng huyền thoại mùa nước lớn lắp sắp mặt đê, sông mênh mông con sáo sổ lồng mỏi cảnh bay sang bờ bắc. . .

Tôi nhìn Hà Nội, tôi sống với Hà Nội, cảm và nghĩ về Hà Nội từ tâm thế một người gốc gác dân quê, tóc để trái đào, ngày xưa đã quen dần với con trâu, cánh đồng, con tôm con tép. . . Tôi xin nói điều này có thể không vừa lòng ai đó, cũng đành. Hỏi người hay hỏi mình yêu hay không . . .yêu Hà Nội, so sánh là khập khiễng rồi, ví von là . . . phiến diện rồi, nhưng thật chẳng khác mấy giả thiết: Ca dao nên yêu hay không thể nào . . . .yêu cho được.

Đất kinh kỳ thời nào cũng vậy, hiển nhiên không chỉ là “hội tụ địa linh” (Hà Nội là rồng cuộn hổ ngồi!) mà quan trọng hơn là nơi hội tụ “nhân kiệt”. Bốn phương đông tây nam bắc người tài mọi mặt thời nào cũng về kinh đô thi thố tài năng học vấn, tài năng bách nghệ, buôn bán kinh doanh, tài năng thi ca nhạc họa, đặc biệt là nhân tài kinh bang tế thế gây dựng nên triều chính, chính thể.

Người tài, chưa nói đến cấp độ tài “siêu quần bạt tụy” vượt trội thế nhân, “siêu nhân xuất chúng”, hỏi xưa nay có ai “trổ” được ở quanh quanh bốn lũy tre làng?!. Người có trí thi thố với đời bơi sông bơi biển, ai . . . .nỡ bơi ao tù nước cạn, ao bèo nước đục, dù cho lũy tre kia, ao làng kia bao giờ cũng vẫn là “mảnh hồn” của người Việt truy nguyên gần xa đều gốc gác làng quê!

Chưa có nơi đâu “sở hữu” điều kiện “vừa và đủ” như thế về “đất địa linh” ” người tuấn kiệt” đảm bảo cho đất kinh đô, đất thần kinh nói chung, Hà Nội ngàn năm nói riêng người tài việc đẹp, ngàn đời tỏa sáng! Đấy là chưa nói đến do “lịch sử” (lại . . .lịch sử) Hà Nội như là nơi giao thoa văn hóa Đông- Tây,Việt- Pháp, vẻ ngoài kiến trúc từ cuối thế kỷ 19 đã hình thành nét đặc trưng tuyệt vời là sự kết hợp, “tác hợp cơ trời” hài hòa giữa cổ kính phương đông với văn minh hiện đại phương tây –văn minh Pháp.

Đâu phải ngẫu nhiên người phương tây, người Pháp nói riêng, từ nhiều đời nay đã bằng mọi phương tiện nghệ thuật ngôn từ, nghệ thuật tạo hình, nghệ thuật kiến trúc vân vân . . .hào hứng say sưa góp phần kiến tạo và vinh danh Hà Nội.

Cũng đâu phải ngẫu nhiên biết bao thế hệ tao nhân mặc khách, biết bao nhiêu tên tuổi tài danh nghệ thuật đã sống tận lực tận tâm với Hà Nội, để có được những tác phẩm âm nhạc, kịch nghệ, tranh tượng ,. . . thể hiện tuyệt đỉnh tình yêu cuộc sống, tình yêu Hà Nội kiêu hãnh và hào hoa, bình dị đấy mà thăng hoa đấy. Để lại cho hậu thế cả sự nghiệp và danh vị của mình trong lòng nhiều thế hệ độc giả, khán giả, thính giả cả nước.

Đương nhiên trước những biến cố lịch sử, trước những xáo trộn giá trị của buổi giao thời, Hà Nội cũng không là ngoại lệ của mọi cảnh đời thế sự phù trầm nương dâu bãi bể, thậm chí có khi rơi vào thế cục “tang thương ngẫu lục”, cười ra nước mắt. Còn nhớ trong tiểu thuyết “Sống mãi với thủ đô” của nhà văn thường được người đời mệnh danh “nhà văn Hà Nội” Nguyễn Huy Tưởng (xin được nói thêm, người làng tôi) có đoạn ông thác lời nhân vật học sinh Vũ Minh phê phán Hà Nội thời thực dân cai trị: “Xin lỗi ông, đau lòng đấy nhưng là sự thật. Hà Nội xấu lắm .. . . Hà Nội nhục lắm. Đến cả cái đền Bạch Mã Hàng Buồm thờ ông thành hoàng của chúng ta mà cái tượng Mã Viện vẫn còn sờ sờ, vẫn có người lễ bái. Phát khóc lên được!”

Tất nhiên đấy chỉ là “chuyện nhỏ” thời thực dân thuộc địa nửa phong kiến qua mắt nhìn của cậu học trò, nhân vật tiểu thuyết. Còn trong đời thực, Hà Nội thiếu gì chuyện, ít gì thời làm khổ không biết bao nhiêu người vì quản lý kém cỏi, vì xây dựng vô chính phủ ,vì thiếu thốn, lam lũ vất vả, bừa bãi, ô nhiễm môi trường kinh hoàng . .

Chợt nhớ một đồng nghiệp cách đây chưa lâu không may “trời bắt tội mang bệnh hiểm nghèo” đã phiêu du trời tây. Thời bao cấp lên tới đỉnh điểm đời sống công nhân viên chức cơ cực, quãng nửa đêm mùa hè oi nóng kinh người, anh mắt nhắm mắt mở đi xếp hàng hứng từng giọt nước rơi long tong xuống cái chậu nhôm mỏng, bức xúc quá kêu gào thê thiết “Sống thế này sao gọi là sống ? Chết còn hơn!”.

Bi kịch đời sống dân Hà Nội mình đâu chỉ có thế! Đâu chỉ có lúc ra Hồ Gươm ngóng gió cũng phải bịt mũi vì mùi xú uế ngay sát chân đứng nhìn ra Tháp Rùa! Mà thôi, chuyện đã qua, nói như cụ Cố Hồng nhân vật của nhà văn làng Mọc (tên chữ Mục Quan Nhân) Vũ Trọng Phụng nổi tiếng:”Biết rồi ,khổ lắm ,nói mãi!”

Tiếc thay, thời bây giờ, bên cạnh những thành tựu “rõ như ban ngày” lại xẩy ra biết bao nhiêu là chuyện truyền thông hay dùng cái từ gọi là “bất cập” mơ hồ nghĩa, để chỉ tình trạng lòng người Hà Nội chưa vui. Hay nói thực, không thể nào vui về đủ mọi ngõ ngách cuộc sống phố thị muôn mầu phồn tạp xuống cấp đạo đức ,tha hóa nặng nề, tục tằn nhếch nhác, xử “đểu” vô tình tàn nhẫn. . ..

Những chuyện “biết rồi, khổ lắm” ấy đầy trên mặt báo thủ đô, chả phải đi tìm kiếm đâu đâu. giống ở thời . . .xưa “cô Kếu tân thời” dị hợm, đều là những chuyện xấu, chuyện không đẹp, chuyện cười buồn, cả cảnh lẫn người thực việc thực. Nhưng hiển nhiên khác xưa ở mầu sắc “tân thời hiện đại”! Người dễ bi quan thấy buồn ,thấy ngán là phải, mà người khó tin tưởng cũng khó tìm thấy lý do để yêu hơn Hà Nội.

Yêu lý thuyết thì dễ chấp nhận; nhưng yêu thực tế thì không! Với họ,tôi chỉ xin được nhắc lại lời của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng (làng tôi !): ” Cái đất khốn khổ này, cần chúng ta hiểu thêm để yêu thêm “. Hiểu biết, lại là câu chuyện của học hỏi, tham vấn, suy nghĩ của cái đầu rồi!

Cái câu gần như cửa miệng “cần một cái đầu lạnh và một trái tim nóng” thường người ta dùng để chỉ các cuộc thi thố, đấu trí, đấu lực khó khăn bất trắc khôn lường trước. Còn ứng xử tự thân với Hà Nội ư ? Tùy thuộc mỗi người với xuất xứ,lịch trình khác nhau ,hoàn cảnh riêng khác nhau. Và “trời” có cho ta “trái tim giầu ” hay không, giầu lòng nhân, giầu hy vọng?

Và cả “giầu’ lòng yêu Hà Nội nữa chứ, một Hà Nội hào hoa, một Hà Nội thâm trầm, một Hà Nội tận cùng khổ đau, một Hà Nội tuyệt vời hạnh phúc và kiêu hãnh với thế nhân, với thế gian này! .Không yêu được Hà Nội cũng tương tự không yêu được ca dao, khác chi không yêu cái gốc gác tâm linh tinh thần Việt ! . / .