Sự điều chỉnh động thái của TQ trong khu vực biển Nam Trung Hoa?

Tác giả: Ted Galen Carpenter. Người dịch: HAHANGIANG

KD: Cảm ơn bạn bè iu quý gửi cho bài viết này với nhận xét: Phân tích tình huống này cho thấy có nhiều thuận lợi cho Việt Nam, miễn là biết bình tĩnh, kiên trì.

“Washington ít nhất cũng nên xem rằng liệu có thể thiết lập lại mối quan hệ một cách nghiêm túc với Trung Quốc hay không

——-

Sau nhiều tháng hành động liều lĩnh với các láng giềng Đông Á, có nhiều dấu hiệu cho thấy Bắc Kinh đang ngả về các chính sách hòa giải nhiều hơn. Trung Quốc bất ngờ rút giàn khoan đầy tranh cãi của mình khỏi vùng biển gần Việt Nam. Vào cuối tháng Sáu vừa qua, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã tổ chức một cuộc họp cấp cao với tổng thống Nam Hàn Park Geun-hye, nhằm cải thiện mối quan hệ với nước này sau căng thẳng tuyên bố Vùng Nhận Dạng Phòng Không của Bắc Kinh trong biển Đông Trung Hoa năm ngoái (ADIZ). Ngay cả giọng điệu cảnh cáo đều đều của Bắc Kinh với Mĩ rằng đừng nhúng tay vào tranh chấp lãnh thổ khu vực biển Nam Trung Hoa cũng dường như im ắng hơn. Thay vì cứ the thé buộc tội Mĩ can thiệp, các quan chức Trung Quốc giờ lại kêu gọi Washington “công bằng” trong việc xem xét các vấn đề tranh chấp.
Có thể xu thế hòa giải này chỉ là tạm thời, hoàn toàn chỉ là sự thay đổi chiến thuật. Nhưng cũng còn cách giải thích đáng khích lệ khác. Bắc Kinh cuối cùng cũng nhận ra rằng họ đã đi lố trong việc tuyên bố chủ quyền, và rằng hành động đó khiêu khích các nước láng giềng khiến họ tiếp thu nhanh hơn cái chính sách kiềm chế trực tiếp Trung Quốc mà Mĩ là nhạc trưởng. Với vô số các nhức nhối địa chiến lược ở khắp nơi trên thế giới, Washington ít nhất cũng nên xem rằng liệu có thể thiết lập lại mối quan hệ một cách nghiêm túc với Trung Quốc hay không.

Dễ nhận thấy rằng các nước Đông Á ngày càng giận dữ trước hành xử của Trung Quốc trong 3-4 năm trở lại, và chỉ những quan chức trì độn nhất của Trung Quốc mới không thấy dấu hiệu nguy hiểm này. Rõ ràng nhất, theo quan điểm của Bắc Kinh, đáng quan ngại nhất chính là sự khẳng khái của Nhật trong các vấn đề quốc phòng. Sự “điều chỉnh” trong Điều 9 của hiến pháp Nhật cho phép nước này tham gia vào các biện pháp quốc phòng chọn lọc là sự kiện mang tính đổi chiều, nhưng còn nữa, các thay đổi tinh tế hơn. Vào tháng 6, Thủ Tướng Shinzo Abe đã tuyên bố rằng chính quyền của ông ủng hộ Việt Nam và các nước khác có tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc. Vài tháng trước đó, Nhật Bản đã cùng với Hiệp Hội các Nước Đông Nam Á (ASEAN) tìm kiếm nỗ lực bảo vệ quyền hàng hải- một cú tát ngay vào các tuyên bố chủ quyền bành trướng biển Nam Trung Hoa của Trung Quốc.

Nước đi của Nhật rõ ràng đã vẽ lên một trận địa các đối tác an ninh. Tokyo và Canberra thỏa thuận một hợp đồng để bán công nghệ tàu ngầm Nhật cho Úc. Tương tự, Nhật cũng công khai rằng họ sẽ xem xét để hỗ trợ tàu tuần tra biển cho Việt Nam, mặc dù vì căng thẳng của chính họ với Trung Quốc nên việc chuyển nhượng tàu sẽ cần thêm ít thời gian. Quan hệ an ninh giữa Nhật Bản và Ấn Độ thì ở một điểm mà các học giả tiếng tăm đang bàn về sự hình thành của một liên mình Nhật-Ấn.

Nhưng các mối lo lắng của Bắc Kinh không chỉ dừng lại với các tiên phong trong lĩnh vực an ninh của Nhật. Các láng giềng nhỏ hơn của Trung Quốc đang phản ứng lại hành động mà họ cho là hung hăng của Trung Quốc. Việt Nam và Philippines đã gia tăng đáng kể các hợp tác ngoại giao và quân sự. Nam Hàn đồng ý chuyển nhượng một tàu cho hải quân Phillipines cuối tháng Sáu. Indonesia thì đang chuyển hướng tập trung quân sự vào đối phó với các sự kiện trong khu vực Đông Nam Á, ngầm phản ứng lại nỗi lo ngại ngày càng gia tăng từ tham vọng Trung Quốc. Mặc cho các ràng buộc kinh tế bao quát và có lợi song phương, Úc vẫn gởi đi một cảnh cáo mũi dùi đến Trung Quốc rằng hành động của họ ở vùng biển Nam Trung Hoa là khiêu khích và không có lợi. Không lâu sau đó, Canberra đồng ý chi 11.6 tỉ cho 58 chiếc F-35 từ Mĩ- một nâng cấp đáng kể cho lực lượng không quân của nước này.

Sẽ không mấy ngạc nhiên khi các quan chức tinh tế Trung Quốc sẽ ngày càng cảnh giác với làn sóng bài Trung từ các láng giềng của mình. Các hành động trơ trẽn của Bắc Kinh đã biến “lời tiên tri” tự hiện thực hóa: sự ủng hộ rộng rãi cho chính sách kiềm chế Trung Quốc trong khu vực được dẫn dắt bởi Mĩ và Nhật. Người khôn sẽ ra lệnh điều chỉnh động thái và hòa giải nhiều hơn, thận trọng hơn trong hoàn cảnh của Bắc Kinh.

Bước đi này đồng thời sẽ tạo cơ hội cho Mĩ giảm bớt thế thù địch đang gia tăng giữa quan hệ Trung-Mĩ và giúp giảm căng thẳng chung trong khu vực Đông Á. Chỉ viễn cảnh đó thôi cũng đủ để thôi thúc các quan chức Mĩ khám phá rằng liệu hành động xuề xòa gần đây của Trung Quốc có thật lòng không. Nhưng còn động cơ khác nữa. Tấm bản địa chính trị của Mĩ đang tràn ngập những bất ổn và khủng hoảng, bao gồm bạo lực lộn xộn ở Syria, Iraq, Libya và Ukraine, cũng như là cuộc chiến ma túy rối rắm ở Mexico và Trung Mĩ. Đáng báo động nữa là mối quan hệ với tổng thống Nga Vladimir Putin đã suy giảm tới mức thời Chiến Tranh Lạnh.

Mĩ cần mối quan hệ tốt hơn với Trung Quốc để giới chức Mĩ có thêm phạm vi mà lo hàng loạt các vấn đề khác. Đặc biệt quan trong là Mĩ không rơi vào tình huống vừa khủng hoảng với Nga vừa khủng hoảng với Trung Quốc cùng lúc. Tình huống bây giờ chỉ ra rằng một cuộc tái lập quan hệ với Trung Quốc đang dịu giọng nên được cân nhắc một cách nghiêm túc nhất.

————
http://nationalinterest.org/feature/chinas-big-course-correction-the-south-china-sea-10949