Hòa giải dân tộc-chuyện tưởng không bao giờ cũ!

Tác giả: Đào Dục Tú

KD: Thật ra, trong nhiều tính cách người Việt xấu xí, mới hay, người Việt cực kỳ cố chấp và nặng ý thức hệ. Dù phê phán nhau cả hai bên, giữa bên thắng cuộc- bên thua cuộc, hoặc ngược lại…

Rút cục, chỉ dân tộc Việt là… thua  😦

Cảm ơn anh Đào Dục Tú

————

 Trong một chương trình “giai điệu tự hào” gần đây của Đài THVN;  tác phẩm “Bài ca thống nhất” của Võ Văn Di (không biết tác giả hiện giờ ở đâu, số phận ra sao), thuộc trong số những bài hát “đếm chưa hết đầu ngón tay” đạt chuẩn “tâm phục khẩu phục” người Việt hai phía “bên thắng cuộc” cũng như . . .” bên thua cuộc”, được nhóm nhạc “Mặt trời đỏ” trình diễn.

chim danh nhau

Một bạn trẻ phát biểu cảm nghĩ. Chàng trai nói đại ý rằng, bạn ấy mong không chỉ thấy đất nước thống nhất trên bề mặt núi sông mà còn mong mỏi hơn, là cảm nhận được sự thống nhất trong lòng người, giữa một phía là chín mươi triệu đồng bào trong nước và một phía là gần năm triệu người Việt hiện đang . . . trôi nổi định cư sinh sống ở hải ngoại. Một lẽ giản dị bạn đó đưa ra, cộng đồng đó rất cần cho sự nghiệp kiến quốc và viện dẫn mỗi năm “bà con ta” gửi hàng chục tỷ mỹ kim kiều hối về “đất nước này”

 Tôi  thấy vui vì có một người trẻ nói ra điều đó nhân nghe một ca khúc ra đời cách đây ngót 40 năm, thời đất nước vừa ngưng tiếng súng! Sau bao nhiêu năm chiến tranh, chia cắt, thù hận, sau mấy thập kỷ liên tiếp Việt Nam thời hậu chiến vẫn “bị” đồng nghĩa với “chiến tranh” trong tâm thức nhân loại, đặc biệt trong tâm thức người Mỹ chịu “hội chứng chiến tranh Việt Nam”.

Còn gì vui hơn, thông qua “giai điệu tự hào”, được nghe lại những ca khúc ngợi ca hòa bình ,ngợi ca tự do? Có người Việt nào không nhớ cái ngày lịch sử ấy, khúc quanh lịch sử ấy, dải đất chữ S trải dài trên bao lơn biển Thái Bình Dương tưởng . . . từ đây không còn bom đạn chết chóc, tin tưởng cái búa chiến tranh định mệnh không còn đập cửa mọi căn nhà, mọi số phận người ở cả hai miền Nam Bắc.

Và từ “mùa xuân đầu tiên” ấy, người Việt được thấy “gió reo nắng cười” trên quê hương xứ sở, người Việt được quyền hy vọng sống xứng đáng nhất với một dân tộc chuộng hiếu hòa, bình dị, bao dung là từ nay “người biết yêu người”, “từ nay người biết thương người” (Mùa xuân đầu tiên củaVăn Cao). Thế nhưng, chỉ tiếc rằng lịch sử và cuộc đời người ta sinh ra đủ thứ nghịch lý trớ trêu, oái oăm nhất  là chỉ tại bởi. . . . ở chữ “nhưng” này. . .

Thôi thì,  do những “lý do lịch sử” ngay sau sự kiện 30/4 năm ấy, “người Việt mình” đã không thực hiện được việc đại sự đầu tiên là “xóa bỏ hận thù”, “hòa hợp dân tộc” ” không có người thắng kẻ thua, chỉ có nhân dân Việt Nam là người chiến thắng” như tinh thần câu nói của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt. Chính vì lẽ . . . đáng tiếc đó nên hệ quả vô cùng nặng nề là hàng triệu người bỏ xứ ra đi vì những lý do chính kiến và hoàn cảnh khác biệt.

Mãi tới khi thời gian đã vắt sang thế kỷ 21, bỏ lại đằng sau 25 năm cuối cùng thế kỷ 20 sóng gió và bão táp thế cuộc chiến tranh cùng thời hậu chiến “bên bờ vực sụp đổ” vô cùng trồi sụt thăng trầm ,gây ra vết thương “thuyền nhân tị nạn” chất chồng thêm đau khổ mất mát, xẻ nghé tan đàn; cách đây chưa lâu, vào mùa xuân năm nay, một quan chức ngoại giao- ông Nguyễn Thanh Sơn, trong chuyến công du vùng Bắc Mỹ ,vẫn phải thêm một lần nữa lên tiếng kêu gọi kiều bào mình “lấp hố sâu thù hận”!

Trong bối cảnh đó, mới thấy chính kiến của bạn trẻ về “thống nhất lòng người” trong chương trình ca nhạc nói trên, dù rằng đó chỉ là  câu chuyện dài  hòa giải hòa hợp được nhắc đi nhắc lại trên các diễn đàn chính thống nhiều năm qua, tưởng không còn có gì mới, mà sao như vẫn giữ nguyên giá trị thời sự! Nhất là trong bối cảnh hiện nay, trước hiểm họa xâm lấn biển Đông vừa trắng trợn hung hãn, vừa độc địa khó lường của “cường quốc láng giềng” Trung Quốc, người Việt mình hơn bao giờ hết cần “thống nhất” trong lòng người. Không phân biệt quá khứ ,chính kiến ,hoàn cảnh, vì sự nghiệp chung giữ yên bờ cõi , vì toàn vẹn lãnh thổ ông cha để lại ,vì tương lai muôn đời con cháu mai sau!

Người viết muốn trích đăng lại lời “chỉ dụ” của Vua Lê Thánh Tông –bậc minh quân trong lịch sử phong kiến Việt Nam vào năm 1471 cách đây trên 06 thế kỷ. Chỉ dụ được ghi giấy trắng mực đen trong bộ sách Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục (bản dịch-Nhà xuất bản Giáo Dục năm  1998-trang 1121), như sau:

“Nhà vua dụ bảo Lê Cảnh Hưng rằng nay nhận được tờ tấu của viên quan An Bang tâu,”người nhà Minh sai nhiều binh lính từ Quảng Tây sang nói phao là sang Hội đồng khám địa giới. Việc này cần phải cho người do thám ngay, nếu (họ) có ý đồ khác, phải lập tức đưa công văn đi các đạo tập hợp binh lính phòng giữ. Một thước núi, một tấc sông của ta có lẽ nào tự tiện vứt bỏ đi được? Phải kiên quyết tranh luận, không để cho họ lấn dần. Nếu họ không theo, còn có thể sai sứ sang tận triều đình của họ biện bạch rõ lẽ phải trái. Nếu người nào dám đem một thước đất đai của Thái Tổ để lại làm mồi cho giặc, người ấy sẽ bị trừng trị nặng!”

Chao ôi đọc lại, nghe lại, suy ngẫm lời thánh hiền, minh quân ngày xưa, với tinh thần thực sự cầu thị “ôn cố tri tân”, có thể nào tâm can người Việt “hậu hậu sinh” thời ” hậu hiện đại” này không cảm động cho được? Hơn thế, không thấy mình cũng có phần “không phải”, “mắc lỗi” với cha ông tổ tiên mỗi khi nghĩ đến Hoàng Sa ,Trường Sa, mỗi khi nghĩ đến  những “vết thương đẫm máu” nơi biên cương phía Bắc tổ quốc? Và nay, Biển Đông…

Chưa bao giờ như ở thời điểm này, cộng đồng gần năm triệu đồng bào Việt Nam do quá khứ và hoàn cảnh khác nhau phải rời xa đất nước, định cư sinh sống trên hầu khắp các châu lục ,các vùng lãnh thổ, lại thấy hai tiếng Việt Nam âm vang như thế trong tâm cảm của mình! Câu cổ ngữ “quốc gia hưng vong thất phu hữu trách” ,nước nhà thịnh hay suy, có cơ “sánh ngang với các cường quốc năm châu” như kỳ vọng của người đọc bản  khai sinh nước Việt Nam mới dân chủ cộng hòa cách đây ngót 70 năm. Câu cổ ngữ ngàn đời ấy chưa bao giờ thôi là bài học nhân sinh cao cả nhất đối với người Việt!

Nói đến cộng đồng người “máu của máu Việt Nam” “không thể tách rời đại gia đình dân tộc” đâu chỉ là nói đến  kiều hối, ngoại tệ góp phần tăng xung lực kinh tế đất nước hàng năm, dù biết nghĩa cử đó của kiều bào với gia đình ,với nước non là hết sức cần thiết.

Điều người viết bài tạp luận này muốn nhắc đến trăm lần là khả năng, tiềm năng tri thức của đội ngũ đông đảo hơn nửa triệu người Việt khoa bảng, thành đạt trên con đường học vấn và nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ ở xứ người, đặc biệt ở những cường quốc văn minh phát triển phương Tây.

Kho trí tuệ phải nói vô cùng quý giá đó mới  thật sự to lớn , mới là “kho vàng khổng lồ” rất cần cho sự nghiệp kiến quốc và bảo vệ giang sơn thời kinh tế trí thức, thời hội nhập toàn cầu và hậu hiện đại nhiều thách thức này. Nếu như kho tri thức, kho nhân tài vật lực của người Việt hải ngoại về cơ bản vẫn là “tiềm lực ngủ yên”; nếu như hòa giải hòa hợp dân tộc mới chỉ là “nói như khẩu hiệu”, thì kể cả hàng tỷ mỹ kim kiều hối hàng năm “chẩy” về nội địa thì, nói theo ngôn ngữ tuyên giáo, tiềm năng của cộng đồng người Việt bên ngoài còn rất lớn , còn chưa được khai thác tương xứng với thực lực ,với thực tế cho công cuộc kiến quốc hiện thời

Phải rồi , người Việt vui vì thống nhất trên bề mặt núi sông ; nhưng người Việt mình sẽ vui hơn khi đất nước thống nhất thực sự trong lòng người, thống nhất đại gia đình dân tộc không kể trong hay ngoài nước ,không còn khái niệm “bên thắng cuộc” ” bên thua cuộc”, không còn phải khắc khoải kêu gọi nhau xóa bỏ quá khứ hận thù, chia cắt, phân liệt. Nhất là trong bối cảnh Việt Nam với “kẻ thù cũ” là Mỹ đã ký kết liên minh đối tác toàn diện !

Hơn 90 triệu người mang giòng máu Việt trong huyết quản, mong biết bao nhiêu, là một nguyên khối Việt con Lạc cháu Hồng thờ tổ Hùng Vương lấy hòa hợp  đoàn kết là sức mạnh. Đấy mới thực sự là bức vạn lý trường thành mà không một thế lực phản động hắc ám ngoại xâm nội xâm nào xâm phạm được, dù chúng từ đâu tới!

Đấy mới thực sự là sức mạnh vô địch trong sự nghiệp gìn giữ và bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của  dân tộc Việt sinh ra từ huyền thoại con Rồng cháu Tiên!