Chuyện lời ăn tiếng nói

Tác giả: Đào Dục Tú

KD: Vẻ sinh động của lời ăn tiếng nói hàng ngày của người Việt mình là muôn hình vạn trạng, biết sao cho vừa ,nói sao cho hết, kể sao cho đủ .Mỗi vùng quê từ Bắc vô Nam đều đóng góp cho dân tộc một kho phương ngữ. Mỗi người cầm bút ít nhiều đều góp một văn phong cá nhân (ĐDT)

Cảm ơn anh Đào Dục Tú   😀

————–
Là người làm cái nghề hàng ngày buộc phải đụng đầu với chữ, với lời ăn tiếng nói, người viết có thói quen hay để ý đến những cách dùng từ ,cách nói khác lạ của đủ hạng người ,trong mọi ngữ cảnh khác nhau. Hình như xưa nay người làm nghề văn nghề báo đều thế cả hay sao ?

Một hôm tôi có việc đưa đón bà nhà tôi lên huyện dự hội nghị tập huấn công tác cán bộ Hội người cao tuổi. Vì cán bộ hội cấp trên nói dai nói dài quá, tôi buộc phải chờ hàng tiếng đồng hồ. May có búi tre vầu lớn ngoài cổng trường bồi dưỡng Chính trị của huyện tỏa bóng râm. Trời mùa hè oi nắng khó chịu, tôi ghé vào quán nước gọi chai bia xả sui chờ đợi quá giờ. Cô chủ quán chào hỏi tôi rồi quay sang trêu một anh chàng trông lẻo khoẻo dặt dẹo ngồi ở bàn bên:
“Này ,mới lấy vợ mà đã ho hen kèn cử thế kia à ? Khó thọ lắm .Tớ bảo cậu xuống chợ Sa bảo lương y Đới Đại Diệp nối nghề cụ Cắm sếnh sáng cắt cho chục thang thuốc bổ dương ” Anh chàng mặt buồn thiu, mỏi mệt : “Yêu nhiều thì ốm, ôm nhiều thì yếu ,có gì đâu. Tiền ăn chả đủ lấy đâu tiền thuốc bổ. Cho vay nóng đi. Vẽ sự !”. Tôi nghĩ thầm ,cậu này nói được một câu nghe . . . cũng vui tai, hay hay, ôm yếu –yêu ốm .

Đã đành chỉ là một cách nói lái thông dụng, chả có thâm ý chữ nghĩa gì; nhưng đây là một câu nói lái hiện đại thuộc ngôn ngữ đời sống thế kỷ hai mươi mốt ! Nó “hài hước hóa” một trong những công việc có người “trời sinh tính” nghiêm túc, nghiêm chỉnh cho là chuyện không nhỏ ; nhưng cũng không ít cô cậu trẻ người non dạ xem đời là cuộc rong chơi ,cho là . . .chuyện nhỏ như chú thỏ. Đó là chuyện yêu đương tình ái, tình dục-bản năng gốc. Rút ngắn , nói gọn câu nói trên như kiểu. . . thành ngữ, chỉ còn “yêu (thì) ốm – ôm( thì) yếu” !

Chuyện vụn vặt hàng ngày vui vui cũng khiến tôi uống ly bia lạnh mùa hè mát mẻ hơn, lý thú hơn, không còn cảm thấy bứt dứt khó chịu bởi cái nóng oi ả trưa hè và tiếng loa trong hội trường vẫn vọng ra câu được câu chăng nói về Hội người cao tuổi cơ sở phải thế này thế kia.

Cũng vì cái chiều hè ấy đã nóng thì chớ lại cảm thấy nó dài lê thê quá thể. Năm giờ chiều, nhìn ra sân gạch vẫn thấy không khí như . . . bốc hơi, lóa mắt. Tôi quanh quẩn đi ra đi vào, buồn tình xách xe máy chạy vòng vòng ven thành Cổ Loa, định tìm chỗ hóng mát trên bờ hồ trước cửa đền Thượng , có giếng Trọng Thủy ở giữa. Làng tôi cách chân thành Ốc chỉ một cánh đồng nên thong dong xe máy chừng năm, sáu cây số cả đi lẫn về là vừa đủ “dưỡng sinh” tuổi thất thập loanh quanh cảnh hiu hắt chợ chiều.

Tôi lơ đãng ngó ngang ngó dọc tìm kiếm cái ghế làm bằng gỗ xẻ đơn giản chưa có đôi nam thanh nữ tú nào ngồi. Chả biết các cháu ra đây ôn bài, ôn thi hay trêu trọc nhau, chỉ thấy chốc chốc lại có đứa ré lên cười, tay cầm sách vở đuổi nhau loạn xạ. Ngồi giữa đám học trò choai choai hiếu động lao xao này , không ổn. Tôi chạy xe lên vòng thành sang Mạch Tràng-làng có nghề làm bún cổ truyền nghe nói từ thủa “ăn sêu”-ăn hỏi nàng Mị Châu, hai ngàn mấy trăm năm rồi !

Thấy từ ruộng bí đao phía trước có ông gánh bí nặng cong đòn , đang đặt chân từng bước cho vững, để leo lên con dốc . Tiếng bà vợ,hẳn thế, dưới ruộng nói với lên, giọng động viên pha trò ” Ông ơi, hay san ra tôi gánh đỡ cho ; cố được hãy cố, cố quá hóa quá cố thì thấy ông bà ông vải !” Đúng là bà lão nông dân thật thà vui tính ,nói với đức ông chồng cao tuổi đang làm việc nặng nhọc mà cứ như nói gở miệng, giời ạ !. Ông lão quay cổ cười , thấy hàm răng đã khuyết vài ba chiếc ” Bà cứ lo bò trắng răng, gánh bí này độ năm mươi cấn chứ mấy rừng. Tôi gánh ngon !”.

Tôi để ý hai từ ” cố quá” nói lái thành “quá cố”, đều là từ gốc Hán –Việt đã ” Việt hóa” quá lâu đời, nói đảo từ ở cấp độ. . . thậm đơn giản, nhưng nghe thấy cũng thú vị. Đấy là chưa kể đến cách nói và ngữ điệu của vợ chồng lão nông dân vùng quê thành Ốc Cổ Loa nổi danh trong lịch sử và huyền sử nước Việt . Tôi vẩn vơ nhớ. Hình như trong một tiết mục hài dạy vợ dạy chồng nào đó trên truyền hình, có hai nghệ sĩ quen tên Vân Dung, Quang Thắng, tôi cũng đã nghe loáng thoáng ” cố quá ,quá cổ” rồi thì phải. Người viết kịch bản đã nghe ở đâu đó cái từ nói đảo chữ dễ phổ biến lây lan này và đưa vào miệng nhân vật hài kịch của họ cũng nên.

Xưa nay các nhà văn Việt ,tiêu biểu hàng tiền bối Vũ Trọng Phụng ,Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố ,Nguyễn Tuân, Tô Hoài đều nổi tiếng là những người năng quan sát ghi chép đời sống thực tế ,đặc biệt là vốn ngôn ngữ sinh động của dân Việt mình. Muốn được là người giầu có kiến thức về ngôn ngữ mẹ đẻ ở cả ba phương diện ,vốn từ vựng thuần Việt cộng gốc Hán Việt phong phú, nghĩa đen- hiển ngôn cộng nghĩa bóng-hàm ngôn của từ và dùng từ sáng tạo đúng chỗ đứng lúc trong công việc cầm bút viết và biên tập bài vở, ngoài cách học các cụ , dân viết lách không còn cách gì hơn .

Gõ phím viết đến đây chả hiểu làm sao tự nhiên trong đầu lơ lửng hiện ra bài thơ lục bát hài hước,đùa dai ông già thời a-còng, rất ngộ, không biết tác giả là ai :

Xưa kia da sắt mình đồng
Nói năng hoa mỹ như rồng phun mưa
Bây giờ như cải muối dưa
Bao nhiêu thần dược vẫn chưa ngóc đầu
Cuộc đời chìm nổi bể dâu
Từ oanh đến liệt gần nhau thôi mà !
Nay mai về với ông bà
Ngồi sau nải chuối ngắm gà khỏa thân !

Ừ thì cứ cho là thơ ” phong cách Bút Tre” đi; nhưng tôi đoan chắc nhiều ông anh bà em đồng nghiệp một thời ai cũng thấy ” thoáng vui trong chốc lát” giữa những tháng ngày đời người ta có thể không nhiều khó nhọc, thiếu thốn như . . . ngày xưa nhưng quá lắm bất an, bất định. Nhất là trong tình thế đời sống văn chương Việt hình như đang diễn ra nghịch cảnh ” bao nhiêu bút sắt mòn rồi- hôm nay còn mãi với đời Bút Tre !”. Cách nói dân dã bao giờ cũng cấp cho văn bản tiếng cười vô thanh ý vị. Nào rồng phun mưa, cải muối dưa, về với ông bà ,gà khỏa thân, chơi chữ “oanh liệt” bằng cách cắt đôi nó. . .

Vẻ sinh động của lời ăn tiếng nói hàng ngày của người Việt mình là muôn hình vạn trạng, biết sao cho vừa ,nói sao cho hết, kể sao cho đủ .Mỗi vùng quê từ Bắc vô Nam đều đóng góp cho dân tộc một kho phương ngữ. Mỗi người cầm bút ít nhiều đều góp một văn phong cá nhân.

Những bậc “bỉnh bút” siêu quần bạt tụy xưa nay để đời hàng chồng sách vở ,trước tác, bổ xung vào kho tàng ngôn ngữ thành văn, ngôn ngữ nghệ thuật Chợt nhớ lời học giả Phạm Quỳnh “tiếng ta còn,nước ta còn”. Về phương diện văn hóa ,tiếng không mất là hiển nhiên quốc hồn quốc túy dân tộc Việt trường tồn ! Như một chân lý bất di bất dịch ! . / .