Sao có thể buông tuồng, suồng sã

Tác giả: Đào Dục Tú

.KD: Vấn đề là ở chỗ, con mắt của người đời có phải là con mắt thơ hay không mà thôi. Các cụ ngày xưa có dạy “Nghề chơi cũng lắm công phu”. Chơi chữ là một nghề chơi thanh cao bậc nhất, trí tuệ bậc nhất , thanh tâm quả dục bậc nhất ,sao có thể buông tuồng suồng sã , dễ dãi ơ hờ! (ĐDT)

Cảm ơn anh Đào Dục Tú  😀

———-
Chừng mươi năm trở lại đây, có một đề tài thời sự văn chương được người đời đem ra đàm tiếu với dư vị hài hước là nạn “lạm phát thơ”. Nhà nhà làm thơ,người người làm thơ, xã phường quận huyện từ phố thị đông đúc đến làng bản xa vắng, đâu đâu cũng xuất hiện câu lạc bộ thơ. Sinh hoạt thơ đại khái ngoài phần ngâm nga, giới thiệu giao lưu thơ tùm lum ,là tự phong và hào phóng phong tặng danh xưng nhà thơ cho bất kể người nào, nhất là các ông các bà có được chút “duyên” in tập thơ đầu ở “trung ương” . .. .

Ảnh chỉ mang tính minh họa. Nguồn: trên mạng

Tôi có ông bạn “kính” bố vợ , ghi điểm “rể hiền”, chạy in tập thơ mừng “cụ nhạc phụ thượng thượng thọ” những năm trăm bản. Tặng ,phát ,biếu không mấy tháng “từ quê ra tỉnh” vẫn còn lù lù một đống góc phòng. ” Nhân mùa mưa lũ, “sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp”, đến phải . . .thủy táng sông Cái cho hồn thơ của cụ mát mẻ thôi !.”. Dạo mưa bão liên miên, có lần bia bụi vỉa hè, ông cười cười bảo tôi

Thời bom rơi đạn nổ, thời nước mình được ” lịch sử chọn làm điểm tựa” trên tuyến đầu thời đại cách mạng chống đế quốc hào hùng, dù sao cũng đã xa xưa. Kỷ niệm tấc gang nay sống mai chết sâu sắc đến đâu thì bốn, năm mươi năm, hai phần ba đời người nước chẩy qua cầu, kẻ còn người mất, nay hầu hết chân chậm mắt mờ tai ngễnh ngãng, kẻ vinh hoa phú quý người bần bách khốn cùng, nhân tình thế thái sao tránh khỏi phôi pha.

Nên nhìn chung người ta dễ thấy phong trào thơ thì rộng lớn ,quảng đại, nhưng đề tài sáng tác cụ thể sinh động nhất cũng chỉ loanh quanh bó hẹp chuyện vui buồn thường nhật của con người,đặc biệt phổ biến là người cao tuổi trước sau cột mốc nhân sinh “xưa nay hiếm” trở lên. . . . cao hơn. Những đề tài “to đùng” một thời thưa vắng . Chuyện kỷ niệm xưa vui buồn , rồi thì thù tạc chữ nghĩa kẻ tung người hứng , chuyện ngâm ngợi phong hoa tuyết nguyệt, chuyện an nhiên tự tại vui đời lên lão. . . hóa hết thành thơ. Thơ dễ dãi quá ! Thơ , nói hơi quá lời như khoai như sắn vừa dễ trồng, vừa tăng sản quá .

Quá nhiều người “điếc không sợ súng”, làm thơ bất cần niêm luật tối thiểu, tủy hứng tùy tiện bắt vần chắp chữ như hò vè, như xẩm chợ, thơ hóa chuyện tầm phào hài hước. . . . Còn nhớ một bậc đàn anh quy tiên đã chừng hơn hai chục năm nay , có lần “trực thời sự đêm” cười rất tươi kể với tôi : ” Cậu có biết hôm qua tôi làm mấy bài không ?. Bẩy bài ! “. Lại nhớ ngày đi địa phương Thái Bình, qua một lèo cả Tiền Hải lẫn Đông Hưng, Thái Thụy phản ánh phong trào “lúa lang lạc lợn”; trên đường về tôi hỏi anh bạn có hai đặc điểm dễ nhận dạng là. . . ưa rượu và hóm hỉnh, tài hoa ” phong cách Hà thành” :” Cậu ấn tượng, nhớ cái gì, ở đâu nhất ?” Anh ấy tủm tỉm ” Chỉ nhớ thơ của cán bộ xóm ” Tôi trợn mắt “Thơ ? “. Anh đọc một mạch ” Củ khoai vẫn củ mọi khi-Xem ra nó có cái gì bên trong-Thì ra là một tấm lòng. . . ”

Bài thơ còn dài ,đã lâu tôi câu nhớ câu quên ; nhưng không quên chuyện cả đám phóng viên nhờ nhỡ ương ương ngồi trên xe đồng loạt phì cười, xoay sang ồn ào cười đùa tán chuyện thơ bút tre, thơ con cóc ,kiểu “anh Thanh ơi hỡi anh Thanh-anh về hợp tác phân xanh đầy nhà ” hay “mối tình hữu nghị Việt-Căm- pu chia là bạn ăn nằm với nhau” vân vân . Mấy mươi năm đã trôi qua,anh bạn đồng nghiệp đã ra người thiên cổ !. Loại thơ phong trào ” cứ trên sáu dưới tám là thơ” từ thời “lúa lang lạc lợn” đang được tự phát triển khai rộng khắp .

Ừ thì cuộc sống con người ,hạnh phúc hay đau khổ, niềm vui và nỗi buồn thường nhật là thực lắm, gần gũi lắm, đâu phải chuyện trên mây xa cách thế nhân. Đâu phải chỉ có đại sự lịch sử chiến tranh thua thắng thăng trầm , hay kinh bang tế thế, thế cuộc thịnh suy mới đáng “qua cửa chữ nghĩa” vào thơ. Nhưng đề tài cuộc sống thường nhật bình thường là một chuyện; thơ có rơi vào cái bẫy “thơ ư, chuyện nhỏ, ra ngõ gặp nhà thơ” vô hình chung xem thường thơ, thậm chí tầm thường hóa thơ, lại là một nghi vấn cần làm cho rõ.

Kim cổ đông tây thiếu gì chuyện đời thường hóa thành thơ để đời cho nhân quần ,cho mai hậu. Còn mãi điển cố Giả Đảo đời Đường vừa đi đường vừa lẩm nhẩm hai từ “thôi,sao” cho một câu thơ ngũ ngôn . Tăng sao nguyệt hạ môn” hay “Tăng thôi nguyệt hạ môn” ? Nhà sư đẩy cửa dưới trăng,nhưng dùng động từ ” thôi” hay “sao” để tả cái động tác “đẩy” ? Tiểu cảnh ông sư đẩy cửa dưới trăng, chuyện đời thường thấy nơi cửa chùa, mà người xưa thận trọng đến thế trước khi hạ bút viết. Cũng vào đời Đường có nền thơ bậc nhất phương đông, tác giả Hạ Tri Chương bộc bạch chuyện ông ly hương từ thủa thơ bé; ” lão giả an chi” mới có dịp trở về quê cũ.

Tiếng quê không đổi, chỉ có tóc là bạc phơ. Trẻ nhỏ nơi cố hương cười hỏi ông là khách từ đâu tới đây. Chuyện đời chỉ có vậy mà đọc âm Hán Việt, người đa cảm cũng thấy ngậm ngùi một nỗi tha hương, nỗi đời vong bản :
Thiếu tiểu ly gia lão đại hồi
Hương âm vô cải mấn mao tồi
Nhi đồng tương kiến bất tương thức
Tiếu vấn khách tòng hà xứ lai

Thơ Việt cũng có những cây bút nói chuyện đời sống thường nhật, ví như trưa hè đi tắm biển chẳng hạn, quá ư bình thường đối với dân mình đang là “chủ nhân ông” sở hữu một đất nước xứ nhiệt đới nóng ẩm có ba ngàn cây số bờ Thái Bình Dương. . . .hóng gió nồm nam. Vậy mà tác giả Từ Thế Mộng có những câu thơ viết về tắm biển trưa hè thật ý vị, tỏ lộ một tình yêu đậm đà ,một tài quan sát tinh tế bằng “đôi mắt xanh”:
“Biển xanh
Xanh ngắt lưng trời
Ta tan vào giữa trưa đời
Lặng xanh”

“Em tắm biển về
Biển ướt ở sau lưng
Vàng mấy khoảng cho mặt trời tới đậu
Em đạp xe về
Dáng hiền thục quá
Đơn giản vậy mà sao lòng anh lạ
Ngóng theo em như thể đóa hoa quỳ”

Tắm biển ban trưa hay cô gái quê duyên hải đi tắm biển về; nét sinh hoạt đời thường diễn ra gần như bốn mùa trên cả ngàn cây số biển phía nam phần đất nước nhiều nắng gió, đâu có gì lạ, thoáng trông có chi là hi hữu nên thơ. Vậy mà nhà thơ đã làm được cái việc vừa khó khăn vừa lý thú của người cầm bút là thăng hoa cảm xúc thi vị hóa đời thường, để đời thăng hoa qua ngôn ngữ Việt thành thơ !. Tắm biển,tóc em ướt, chưa có gì thi vị ư ?. Thơ đã tô mầu trữ tình cho mái tóc khi thơ lên tiếng
Không phải suối
Không phải sông
Mà ướt đầm mái tóc

Mái tóc suông dài tuôn chẩy quả như người đời thường “mỹ hóa” ví von thành suối tóc, suối tóc đen tuyền chẩy dài trên lưng người thiếu nữ như thực mà như hư ảo, nét biểu trưng cho vẻ đẹp thanh xuân xưa nay không chỉ vào thi ca nhạc họa mà còn thừa hấp lực vào cả văn xuôi, như trong văn tùy bút “Tóc Chị Hoài” của cụ Nguyễn Tuân . Cây bút phê bình văn học hải ngoại Nam Chi trong bài viết “Thơ đời thường” tinh tế nhận xét tác giả Từ Thế Mộng đã “ảo hóa” đời sống thường nhật, ảo hóa tia sáng mặt trời soi chiếu vài ba vùng áo ướt trên lưng em có dáng người hiền thục thanh tao. Thoáng thấy mầu vàng của da thịt người con gái thanh tân còn ướt nước biển được mặt trời âu yếm soi “đậu” trên lưng :

Không phải rực vàng
Một mầu hoa cúc
Mà đơn sơ áo ướt một đôi vùng
“Em tắm biển về-biển ướt ở sau lung”. . . . Được yêu biển, yêu người lắm lắm mới có những câu thơ giản dị mà ý vị tinh tế, chan chứa nhân tình như thế

Mới hay đời sống thường nhật ít hoặc chưa thành thơ trong thơ đại trà ,đại chúng thì đấy đâu phải là lỗi của cuộc đời thường nhật không nên thơ hay chưa thấy nên thơ !. Vấn đề là ở chỗ, con mắt của người đời có phải là con mắt thơ hay không mà thôi. Các cụ ngày xưa có dậy “Nghề chơi cũng lắm công phu”. Chơi chữ là một nghề chơi thanh cao bậc nhất, trí tuệ bậc nhất , thanh tâm quả dục bậc nhất ,sao có thể buông tuồng suồng sã , dễ dãi ơ hờ ! . / .