Quả là ngôn ngữ nghệ thuật, có khác !

Tác giả: Đào Dục Tú

KD: Ai đem phân tích một mùi hương ! Những “con chữ”  chẳng có gì xa lạ rơi vào tay “phù thủy chữ” hiểu theo nghĩa sáng tạo tuyệt vời có chút gì bí ẩn trong việc đặt chữ cạnh nhau hoặc hoán vị cho nhau hay gián cách nhau bằng một con chữ khác, tác thành những câu thơ khác biệt, giầu sức biểu cảm. Bóng chữ rộng hơn ,đẹp lung linh ảo diệu hơn nhiều so với . . . chữ trần sì như  nhộng! (Đ D T)

Cảm ơn anh Đào Dục Tú   😛

———-                                                                     

Đã có nhà văn cảm phiền về “một ca đặc biệt là văn chương Việt”,  tính dị biệt của ngôn ngữ Việt. Dị biệt, đặc biệt ở chỗ có âm – tiếng  mà không có tự- chữ. Trong suốt chiều dài lịch sử hàng nghìn năm dằng dặc “vong quốc nô” về tay các triều đại phong kiến Trung Hoa  ” Hán hóa” , ngôn ngữ Việt chỉ còn đủ sức mạnh giữ vững phần tiếng nói. Và các thể loại văn học thời hiện đại của nước nhà cũng vì “lý do lịch sử” nên . . . đi sau các nước  hàng . . . vài ba thế kỷ hoặc lâu hơn nữa!

Nguồn: Trên mạng

Chính vì lẽ đó nên  công việc “hiện đại hóa” văn học đặt nặng trên vai trước hết những người cầm bút, những người nói như thi tài Trần Dần, “thồ chữ ở xứ này lên” !.

Thồ chữ ! Quả là hình ảnh ẩn dụ diễn dịch chính xác công việc sáng tạo văn chương, sáng tạo chữ. Chữ ,thứ nguyên liệu tưởng như “ai chả biết” dễ viết ,dễ hiểu, sau khi đã qua cổng trường tiểu học xã .Chữ, ví như những viên gạch vô hình xây nên công trình,  xinh nhỏ như một bài thơ trữ tình  hay bề thế  khang trang vời vợi hơn, như  là một cuốn tiểu thuyết ” Tấn trò đời” trường thiên, hay những  vở kịch để đời cho nhân loại như Rô-mê-ô Ju-li-et, Hăm-lét chẳng hạn.

Trong phạm vi hẹp ,nói nôm na, muốn có được một bài thơ hay thôi, ngoài chuyện xem như tiền đề, tiên quyết là tấm lòng chân thành của người viết khi đối diện với trang giấy và với . . . mình, thì chính là công việc chọn chữ, tìm từ,lập ý, lập tứ. Cũng vì trường kỳ lịch sử dân mình không có chữ nên . . . .ngày xưa thơ chủ yếu đến với người tiếp nhận qua tai nghe. Thơ nghe qua tai,làm gì có chữ ,có sách mà đọc như thời hiện đại , như thời a-còng có chỗ sách báo chất như đồi như núi !

Nghệ thuật trình diễn dân gian ví như hát ví, hò trên sông nước, ruộng đồng ,quan họ hát xuân,hát phương vài lấy thơ Kiều làm “chủ vị” sáng tạo, hát ru con, hát trống quân vân vân  “cấp” cho thơ ,chủ yếu là thơ  lục bát câu trên sáu câu dưới tám đủ kiểu “vần chân,vần lưng” những giai điệu thường hết sức mượt mà,dễ nghe ,dễ thuộc. Ví như truyền thống tiếp nhận thơ kiểu như thế, chẳng hạn, kéo dài hàng nghìn năm chứ có ít đâu khiến tạo thành một nếp nghĩ ,nếp thưởng thức thơ không chú trọng nhiều đến chữ, chỉ chú trọng đến nhạc điệu, đến  vần sao cho êm tai , trơn tru ,dễ nghe, dễ thuộc.

Thơ hát, thơ hò , thơ ngâm véo von tồn tại mãi tưởng như một “mặc định” sinh hoạt chữ nghĩa thơ phú tập thể không bao giờ, không sao thay đổi được nữa ! Truyện Kiều của cụ Nguyễn Tiên Điền thế kỷ mười tám trở thành “đỉnh cô sơn” chót vót của thi ca Việt, gần như trở thành chuẩn mực ,kinh điển. Con cháu mấy thế kỷ sau,kể cả thời a-còng hiện tại vẫn chỉ biết ngoái cổ ngóng trông đỉnh núi thơ ” bạc đầu mây trắng bay” ba trăm năm trước !.

Nói thế không có nghĩa  để người hay chăm chăm bắt bẻ hồ đồ cho là “xoay lưng với quá khứ” giảm nhẹ giá trị thơ cổ điển. Vấn đề đâu phải ở chỗ giảm khinh hay tăng trọng thơ cổ điển mà chính là  ở chỗ quan thiết bậc nhất cần lưu tâm :  trên cái nền thơ ca dân tộc có những đỉnh cao tót vời như thế ,con cháu đời sau tân tiến văn minh hơn lẽ ra nên và cần  sáng tạo những công trình nghệ thuật ngôn từ  xứng tầm ,xứng đáng với tiền nhân.

Chả có lẽ ,nói theo đầu đề của một cuốn tiểu thuyết như cách ngôn hiện đại, “ăn mày dĩ vãng” mãi !. Tiền nhân có phép mầu phục sinh,tiền nhân cũng ngồi thở dài, buồn hiu hắt ! Vả lại chưa nói đến vấn đề nhân bản, nhân văn thời cụ Nguyễn Du đặt ra trong truyện Kiều đã trở thành lịch sử, xếp vào “bảo tàng tư tưởng”.Ngay như ngôn ngữ là công cụ tinh thần lâu bền nhất thì chắc chắn ngôn ngữ thơ thơ của cụ ” tuyệt diệu từ”  cũng là ” tuyệt diệu từ” có giá trị lịch sử cụ thể thời ấy là chủ yếu.

Cách cảm cách nghĩ , nhất là cách diễn đạt ,biểu đạt  của người Việt thời a-còng quá sức khẩn thiết đòi hỏi có một ngôn ngữ nghệ thuật thơ khác phù hợp với “cái nói” “cái đọc” “cái nghe” của. . . thế nhân thời a-còng. Thế mới là phải đạo chứ, thế mới là tri ân tiền nhân chứ, kính thưa các vị !

          Viết lan man đến đây tự nhiên chợt nhớ câu thơ “Việt Bắc” của lão ông Trần Dần dễ có đến hơn nửa thế kỷ về trước:

                   Sông Lô nước xanh

                                                          Chòng chành mảnh nguyệt

                   Bình Ca sương sớm

                                                          Lạc con đò .

Đã có một “Việt Bắc” rất quen thuộc. . . . lòng đối với học trò “Mình về mình có nhớ ta-Ta về ta nhớ những hoa cùng người-Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi-Đèo cao nắng ánh dao cài thắt lưng-Mùa xuân hoa nở trắng rừng-Nhớ cô em gái hái măng một mình-Rừng thu trăng dọi hòa bình-Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung” . . . .

Thơ xuôi chiều như nước chẩy, thơ thuận gió xuôi buồm trơn tru phẳng lặng theo vần du dương. Có phần khác Việt Bắc kiểu đó,   một Việt Bắc . . . .mới hơn, khác hơn. Thơ đẩy trí tưởng tượng của người từng sống với ” thủ đô kháng chiến chín năm lồng lộng gió ngàn” về với bến Bình Ca chìm trong mịt mù sương sớm dầy đặc,con đò như đi lạc trong mơ, trong cõi hư huyền nào. Và mảnh ” trăng chiều” chòng chành lay động nhẹ trên mặt  sông Lô nước xanh gợn sóng . Một Việt Bắc  gợi cảm như tranh thủy mặc, mang phong vị Đường thi có thể chỉ nhờ hiệu ứng của hình ảnh  “chòng chành mảnh nguyệt” với con đò trôi lạc trong sương mù đầy trời.

          Hay như ” phu chữ” Lê Đạt hạ bút mùa thu, viết câu thơ ” Thu mở mùa chim mây vỡ tổ”, mới đọc lướt qua ,thấy có gì như  ngắc ngứ khó hiểu, khó cảm. ” Học mót” một ông bạn viết phê bình có tiếng, người viết ” ngắt chữ” câu thơ ” Thu mở mùa/chim mây vỡ tổ” và ” Thu mờ mùa chim/ mây vỡ tổ”, cả hai cách hiểu và cảm “chim mây vỡ tổ” và mùa chim (như) “mây vỡ tổ” đều đưa đẩy liên tưởng của người đọc thơ trong quầng sáng ngọn đèn đêm tới một bầu trời thu sáng trong cổ điển. . . .ngày xưa chim  còn bay đầy trời, ngàn đám mây còn bay đầy trời dồn đua theo gió xô dạt về  góc trời, xây thành trên dẫy núi xanh mờ xa

          Hóa ra vẫn những từ những tiếng quen thuộc đến “mòn mỏi” vào tay những “phu chữ hiện đại” có khi trở thành lạ lẫm,làm giầu liên tưởng, làm giầu mỹ cảm cho người đọc. Và vai trò “đồng sáng tạo” thơ, cộng cảm với thi nhân được trao truyền cho độc giả thời hiện đại . Người đọc không “nghe” thơ thụ động như ngày xưa nữa mà tự làm giầu có kho thi liệu cho mình; cũng có nghĩa làm phong phú hơn cho thơ Việt. Người viết ý thức với chữ quen dần với “bóng chữ”, phía nghĩa bóng ,nghĩa chìm tiềm ẩn của chữ, ngoài cái phần lộ diện thường nhật mà ai cũng dễ thấy

                                      Nhận ra tôi chỉ gốc cây gạo cụt

                                      Tạm ứng nửa trời hoa trước đón nhau.

Cây gạo cụt xấu xí như . . . “người” ngoan hiền, biết tạm ứng nửa trời hoa đong đưa bung  nở sớm đón ai về !

                                      Hay em biến trong gương

                                                Một người giống em trở lại

                                                          Má má môi

                                                                   Mà mỗi

                                                                             Mỗi xa

Ai đem phân tích một mùi hương ! Những “con chữ”  chẳng có gì xa lạ rơi vào tay “phù thủy chữ” hiểu theo nghĩa sáng tạo tuyệt vời có chút gì bí ẩn trong việc đặt chữ cạnh nhau hoặc hoán vị cho nhau hay gián cách nhau bằng một con chữ khác, tác thành những câu thơ khác biệt, giầu sức biểu cảm. Bóng chữ rộng hơn ,đẹp lung linh ảo diệu hơn nhiều so với . . . chữ trần sì như  nhộng !

                   Quả là ngôn ngữ nghệ thuật, có khác ! . / .