Nếu tôi là Thị trưởng (II)

Phần II: CHUNG CƯ ‘BA LÔ’ VÀ SỰ VÔ CẢM (tiếp theo và hết)

Tác giả: Kỳ Duyên

KD: Đây là phần II của bài viết, cách đây đúng 09 năm. Nhưng những vấn đề đặt ra trong bài viết này đọc lại vẫn thấy tính thời sự.

————-

Thưa bạn đọc quý mến. Khi bài viết này lên trang thì KD/KD bất ngờ nhận được tâm sự của một cô gái có cái tên rất đẹp- Bùi Hương. Tâm sự của Bùi Hương, một cô gái không sống ở HN nhưng tấm lòng cô ấy, con tim cô gái thiết tha với vẻ đẹp HN thế nào, khiến KD/ KD rưng rưng xúc động. Nay xin được đăng lên. Và rất mong, các vị quan chức c/q có trách nhiệm ở HN đọc được tâm sự này của cô gái ở tỉnh miền núi Điện Biên:

“Cô Kim Dung thân mến!
Cho phép cháu được gọi cô như vậy ạ. Rất mong tin nhắn này của cháu không làm cô cảm thấy phiền.

Thưa cô, cháu là một người dân của thành phố Điện Biên Phủ- tỉnh Điện Biên, vô tình đọc được mấy bài viết của cô về Hà Nội cháu thấy tim mình như nghẹn lại. Mấy ngày hôm nay cháu buồn, đau đớn, xót xa về vụ việc cây xanh Hà Nội.

Dù không phải người của HN nhưng cháu như đứt từng khúc ruột, nhưng cháu bất lực cô ạ. Hàng ngày, hàng giờ cháu theo dõi trên báo chí để biết sự vụ sẽ đi đến đâu, ruột gan sôi lên khi cây cứ đổ, và người dân thì tức giận. Thật là tàn nhẫn. Cháu không hiểu, thật sự không hiểu nổi cái gì đang diễn ra nữa; đến ngay như tỉnh cháu là một tỉnh miền núi mà hàng năm vẫn cứ phải trồng thêm cây xanh, vẫn phải giữ gìn từng gốc cây cơ mà. Chả lẽ c/q HN coi thường tất cả những gì là giá trị của lịch sử, văn hóa, kỷ niệm.

Đọc bài viết của cô cháu càng đau lòng khi những hình ảnh trong bài viết của cô dường như chỉ còn là ký ức. Cô ơi nếu có thể làm gì được, cô và các cô, các chú, các bác hãy làm để cứu lấy cây xanh Hà Nội. Dù bây giờ cái dự án kia đã tạm dừng lại nhưng không gì có thể bù đắp lại những mất mát họ đã gây ra. Ngày trước mỗi lần về Hà Nội công tác cháu vẫn đi ngắm HN bằng tất cả cảm xúc và tấm lòng của mình cô a. Cháu tiếc, buồn và xót lắm.

Cháu chào cô!”

Cảm ơn cháu Bùi Hương. Cảm ơn tấm lòng rất đẹp của cháu!

———–

Nếu cây xanh là y phục, thì kiến trúc đô thị chính là diện mạo, là gương mặt, là “mặt tiền” của thành phố.

Đã là người Hà Nội, không ai không nghe nói hoặc chí ít một lần được ngắm những bức tranh phố cổ Hà Nội – Phố Phái. Những nếp nhà nhỏ lô xô, tựa vào nhau, mang hơi thở bình yên và màu của thời gian đã trở thành một phần bản sắc kiến trúc của Hà Nội cổ, thành nỗi nhớ trầm tích và ẩn ức trong sâu thẳm tâm hồn người Hà Nội.

Phố khổ và chung cư đeo “ba lô”

Nhưng thời hiện đại có ai sống được trong phố cổ với những ngóc ngách rêu phong ẩm ướt. Phố cổ thành “phố khổ” là vậy. Tôi nhớ có lần, đi công tác từ Campuchia trở về, bạn cứ tấm tắc khen thủ đô Phnôm Pênh có những đường phố chính, những đường phố lớn, muốn xây dựng ở đó, chủ sở hữu phải được chính quyền duyệt cả thiết kế với giá trị đầu tư nhất định để bảo đảm quy hoạch hài hoà, không phá vỡ cảnh quan kiến trúc chung của cả đường phố, cả thành phố. Những đường phố của Phnôm Pênh nhờ đó, trải qua bao thăng trầm, biến động khốc liệt của chiến tranh vẫn giữ được vẻ đẹp kiêu sa, đặc sắc của riêng Phnôm Pênh mới có.

Nghe chuyện bạn kể tôi cứ chạnh lòng cho Hà Nội. Phố Phái giờ cũng chỉ còn đẹp trong hoài niệm bởi nó đã bị các cửa hàng buôn bán nuốt chửng trong sự hổ lốn, ồn ào, xô bồ, trong dòng chảy hừng hực, hầm hập của thương trường. Ngoại trừ những con phố cổ xưa từ thời Pháp ở một vài quận trung tâm, Hà Nội giờ có con phố nào đẹp?

Tôi đã từng mừng vui khi dạo nào nghe tin phố Thái Hà, phố Chùa Bộc, chủ sở hữu bắt buộc phải xây dựng theo những quy định chung về chiều cao các ngôi nhà. Dạo đó, con phố Thái Hà, phố Chùa Bộc đã có diện mạo mới mẻ như “gái một con” hấp dẫn sự chú ý của người Hà Nội. Trải mấy nắng mưa hay sự quản lý nhôm nhoam, phố Thái Hà, phố Chùa Bộc giờ cũng “xuống sề”.

Còn kiến trúc các ngôi nhà phố phường Hà Nội mới đa dạng tưng bừng “trăm hoa đua nở” làm sao. Nhà thì cao vút, nhà thì thấp tè, nhà nhô ra, nhà thụt vào, nhà sơn hồng sẫm, nhà sơn xanh lét, nhà nào nhà nấy đều muốn phô ra hết trình độ thẩm mỹ của mình chẳng giống ai, rất phản cảm con mắt. Đã đành sơn màu gì, xây thế nào là quyền chủ sở hữu. Nhưng xin đừng quên, quyền của chủ sở hữu ấy phải nằm trong một quy hoạch chung về kiến trúc và thẩm mỹ của đường phố, của thành phố.

Thế nhưng, bạn đã hỏi tôi, có cấp nào quy định về quy hoạch và có chủ sở hữu nào thực hiện đúng trong cái thời buổi “đầu tiên?” này. Cũng như một dạo, người ta đổ xô lên quận Tây Hồ, dọc đường Yên Phụ để ngắm xem những ngôi nhà “Em ơi, Hà Nội… chóp”. Cái mốt chóp cóp nhặt từ kiến trúc sang trọng cổ xưa của Pháp đã được người Hà Nội “quê hoá”, kệch cỡm và khôi hài đi vào những ca từ đầy nhung nhớ Hà Nôi của người nhạc sĩ tài hoa, làm đau cả bản nhạc.

Nhưng kinh nhất với tôi, là những chung cư đeo “ba lô”. Chiến tranh đã đi xa từ rất lâu, nhưng Hà Nội hào hoa và thanh lịch của tôi vẫn luôn trong tư thế chiến trận – với những chung cư đeo “ ba lô”. Những chiếc “ ba lô” đủ kích cỡ, hình dáng đã làm biến dạng, làm méo mó diện mạo kiến trúc thành phố vốn đã nhôm nhoam.

Tôi không trách nhiều những cư dân sống trong các chung cư ấy. Mà tôi chê những kiến trúc sư, những nhà thiết kế. Những chiếc “ ba lô” cứ đeo đẳng trên lưng chung cư bởi lẽ người dân còn quá thiếu chỗ ở, thiếu chỗ phơi, và cách thiết kế lại rất thiếu an toàn. Tôi không biết các quy chuẩn quốc tế nào, nhưng một khi người dân phải làm liều, phải làm bậy ngay ở chính căn hộ mà họ phải tốn biết bao mồ hôi lao động mới có được, một phần ý thức họ kém đã đành, nhưng cái chính là cách thiết kế của các nhà chuyên môn, chắc chắn có những điều không phù hợp.

Ừ, thì cứ cho là những chung cư đeo “ba lô” rồi đây sẽ đi vào quá khứ, bởi Hà Nội đang bàn tới việc sẽ phá các chung cư cũ xây dựng các chung cư mới hiện đại hơn, văn minh hơn. Nhưng ai dám bảo đảm các chung cư mới này, rồi theo thời gian, theo năm tháng, với cách quản lý buông lỏng theo kiểu “cha chung không ai khóc” sẽ lại không tiếp tục ở tư thế chiến trận – đeo “ba lô”?

Đã bắt đầu đây đó, ở khu đô thị Trung Hoà – Nhân Chính chẳng hạn, nhiều hộ dân đòi lắp thêm song sắt cửa sổ. Và “ Tổng Công ty Vinaconex đã đồng ý với điều kiện họ phải chịu trách nhiệm về việc làm của mình” (Báo ANTĐ, 20/7/2006). Đấy là một cách nói, cách ứng xử rất vô cảm. Liệu những chung cư mới có đi theo “ con đường mòn ấy” của các chung cư đeo “ ba lô” trước đây không? Chưa ai dám khẳng định là không. Chỉ có điều bỏ mặc cho sự tuỳ tiện về kiến trúc đường phố tung hoành, phải gọi tên chính xác là gì, nếu không phải là sự vô cảm, vô cảm với chính trách nhiệm, bổn phận mình?

Còn có một sự vô cảm khác, vô cảm với chính đồng bào mình. Đó là câu chuyện một gia đình gần một năm trời kêu cứu vì bị hàng xóm lấp mất lối đi chung, hằng ngày phải trèo ra trèo vào bằng một chiếc thang. Vậy mà không có cơ quan chức năng nào chịu đứng ra giải quyết, khiến họ sống giữa đồng loại mà có cảm giác bị bỏ rơi.

Người dân có thể vô cảm với nhau vì nhiều lý do. Nhưng cán bộ lãnh đạo, liệu có được phép vô cảm với nỗi khổ của dân không?

Đi kiểu Sài Gòn hay kiểu Hà Nội?
Còn nhớ, năm 1977 khi trở ra Hà Nội thăm tôi, bạn và tôi đèo nhau trên chiếc xe máy Honda cũ. Đến ngã tư đèn đỏ, bạn quay lại hỏi: “ Đi theo kiểu Sài Gòn hay kiểu Hà Nội đây?”. Tôi ngơ ngác: “Thế là thế nào?”. “Đi kiểu Sài Gòn là thấy đèn đỏ thì dừng. Đi kiểu Hà Nội là thấy đèn đỏ cứ phóng vượt qua!”. Trời đất. Tôi phì cười. Rồi bỗng thấy chạm tự ái, thấy xót và buồn. Hà Nội của tôi trước hết là một khái niệm thanh lịch, giờ đã mang nghĩa xô bồ. Những năm sau vào Sài Gòn, ôi thôi ở đâu tôi cũng thấy cách đi “theo kiểu Hà Nội”. Kiểu Hà Nội đã thành kiểu Sài Gòn.

Nếu giao thông đô thị là sự phản chiếu rõ nhất nếp sống, ứng xử văn minh của người đô thị, thì tiếc thay phải sòng phẳng thừa nhận rằng, văn minh đô thị của người Hà Nội là văn minh “cò cưa”. Mặc dù ở bất cứ nơi nào của thành phố người ta cũng có thể thấy câu khẩu hiệu: “Sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật”, nhưng ở bất cứ ngã tư ngã năm nào của Hà Nội cũng có thể thấy cái sự “cò cưa” với pháp luật. Có cảnh sát, mọi người tham gia các phương tiện giao thông răm rắp tuân thủ đèn xanh, đèn đỏ…nhưng thử không có sắc phục cảnh sát xem, lập tức người ta đi “ theo kiểu Hà Nội” ngay.


Nhưng tôi sợ nhất không phải ô tô, xe máy, mà là các bác xe thồ, hay các bác xe đạp, cứ nghênh ngang vượt đèn đỏ, tựa như các bác ấy “đi trên luật” giao thông thì phải. Có lần ngay tại một ngã tư, tiếng loa của một anh cảnh sát phải cất lên: “Đề nghị anh xe thồ đi dẹp vào. Đây không phải là đường làng của nhà anh”. Hoặc là các xe máy có biển số tỉnh ngoài. Một người bạn đồng nghiệp của tôi nhận xét, có rất nhiều vụ va chạm giao thông thường thấy biển số xe của các tỉnh ngoài.

Còn các bác xe thồ, xe đạp thì… không ít lần họ vượt đèn đỏ, có cảnh sát hẳn hoi, nhưng các bác ấy có ai bị phạt gì đâu. Cái lý lẽ “ thương người nghèo” (người không có phương tiện giao thông hiện đại) không ở đâu rõ như ở việc tham gia giao thông. Chính vì thế, có một sự kiện, cách đây chưa lâu, được xem là quá mới, khiến nhiều người, cả tôi nữa, chú ý. Lần đầu tiên, toà án truy tố một người đi bộ, vì đi không đúng làn đường dành cho mình đã gây tai nạn giao thông , vì trước pháp luật mọi người tham gia giao thông phải được bình đẳng, cho dù đi bằng phương tiện “hai cẳng”.

Bức tranh giao thông Hà Nội vẫn luôn là bức tranh phản cảm nhất. Ở bất cứ giờ nào trong ngày, người ta cũng có thể thấy xe máy, ô tô, xe đạp, cả xe thồ… chen chúc nhau, đi lấn sang đường của nhau, mạnh ai người ấy vượt. Cho nên, có một chuyên gia nước ngoài sang Việt Nam sống ở Hà Nội đã lâu, nhưng không bao giờ bà ấy dám tự lái ô tô, vì rất sợ cách đi của người Hà Nội.

Còn trong cuộc thi “Chiếc nón kỳ diệu” của Đài truyền hình VN năm nào, khi đoán chữ của câu hỏi “Điều gì kỳ lạ nhất”, một hoạ sĩ người nước ngoài, chồng NSƯT múa Lê Vi, đã đoán trúng hai chữ: “Giao thông”. Kỳ lạ nhất là giao thông Hà Nội!

Khi tôi hỏi một kiến trúc sư trẻ: “Giải pháp nào cho giao thông thành phố?”. Cậu ta trả lời: “ Bó tay. com! ” thôi cô ạ. Vì Hà Nội dở từ quy hoạch đô thị. Quy hoạch đô thị đã dở dẫn đến sự ùn tắc giao thông. Hai lĩnh vực đó, gắn bó nhau như hình với bóng!”. Nhưng tôi không tin không có câu trả lời.

Nếu tôi là Thị trưởng, tôi sẽ có hai phương án: Một là “lên trời”; hai là “xuống đất”. Lên trời là hệ thống cầu vượt. Xuống đất là hệ thống giao thông ngầm, tàu điện ngầm., và phải đi bằng cả hai cách. Dù khó khăn, tốn kém, đó là điều tất yếu phải hướng tới của bất cứ quốc gia, thủ đô nào đang phát triển.

Tôi vẫn tin, đến lúc nào đó, Hà Nội sẽ không chỉ đẹp trong quá khứ, trong hoài niệm, mà Hà Nội sẽ đẹp ngay trong hiện tại, càng đẹp trong tương lai. Hà Nội sẽ không chỉ đẹp bởi cây xanh mát lành, bởi kiến trúc đô thị hài hoà và thẩm mỹ, mà sẽ còn phải đẹp bởi giao thông đô thị văn minh, văn hoá.

Nhưng muốn có được bức tranh tuyệt vời ấy, Hà Nội phải có tư duy và tầm văn hoá xứng đáng. Để mỗi người con Hà Nội chúng ta dù đi bất cứ nơi nào cũng có thể hãnh diện mà nói rằng: “ Tôi, là người Hà Nội” .