Cần thiết phải khởi kiện Trung Quốc ra Tòa án Quốc tế

Tác giả: Hoàng Ngọc Giao (Theo FB Đức Bảo Phạm)

LỜI GIỚI THIỆU CỦA LUẬT SƯ- TIẾN SĨ ĐỨC BẢO PHẠM

Bạn tôi- Luật sư, Tiến sĩ Hoàng Ngọc Giao là một trong những chuyên gia hàng đầu về Luật Quốc tế nói chung và Luật Biển nói riêng. Ông từng là Quyền Vụ trưởng ở Ban Biên giới Chính phủ nay thuộc Bộ Ngoại giao. Đầu những năm 70 của thế kỷ XX Hoàng Ngọc Giao học chuyên ngành Luật Quốc tế tại Trường Quan hệ Quốc tế Moskva thuộc Liên Xô cũ. Những năm 80, ông nghiên cứu sinh và bảo vệ luận án Tiến sĩ Luật Quốc tế tại Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô. Từ năm 2003 đến năm 2004, Tiến sĩ Hoàng Ngọc Giao tham gia chương trình trao đổi học giả Fulbright, giảng dạy – nghiên cứu sau tiến sĩ tại trường Luật, Đại học Tổng hợp Boston Massachusetts, Hoa Kỳ.

Hiện nay Luật sư, Tiến sĩ Hoàng Ngọc Giao là Viện trưởng Viện nghiên cứu Chính sách, Pháp luật và Phát triển; Giám đốc Công ty Luật Hoàng Giao.

Khi Trung Quốc ngang nhiên hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 trong thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, Tiến sĩ Hoàng Ngọc Giao là một trong những chuyên gia pháp luật ủng hộ giải pháp khởi kiện Trung Quốc ra Tòa án Quốc tế. Bài viết dưới đây của Luật sư, Tiến sĩ Hoàng Ngọc Giao đã được đăng ở Tạp chí Nghiên cứu lập pháp của Ủy ban thường vụ Quốc hội nhằm gửi đến các đại biểu Quốc hội thông điệp của mình rằng với những chứng cứ lịch sử và pháp lý Việt Nam có thể bảo vệ được chủ quyền của hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ở Biển Đông khi khởi kiện Trung Quốc ra Tòa án Quốc tế.

Nhân dịp Quốc hội khoá XIII chuẩn bị khai mạc kỳ họp thứ 9 vào ngày 20 tháng 5 năm 2015 trong bối cảnh Trung Quốc liên tục có những hành động phi pháp xâm phạm chủ quyền biển đảo của Việt Nam ở Biển Đông, đặc biệt là việc bồi đắp các bãi đá ngầm thành các đảo nhân tạo nhằm mục đích xác lập chủ quyền. Tiến sĩ Hoàng Ngọc Giao đã gửi bản gốc bài viết này, mong một lần nữa chuyển đến các Đại biểu Quốc hội và những người quan tâm đến vấn đề khởi kiện Trung Quốc ra Tòa án Quốc tế để bảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt Nam được biết trong bối cảnh Biển Đông đang dậy sóng. Mong rằng Việt Nam phải hành động kịp thời trước khi quá muộn.

Blog KD/KD xin trân trọng đăng tải nguyên văn bài viết dưới đây.

Cảm ơn LS- TS Hoàng Ngọc Giao và LS- TS Đức Bảo Phạm!

————–

ÐBPLS- TS Hoàng Ngọc Giao (bên trái)- và LS- TS Đức Bảo Phạm (bên phải)

HÀNH ĐỘNG ĐỂ BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO CỦA TỔ QUỐC

Luật sư, Tiến sĩ HOÀNG NGỌC GIAO,
Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chính sách, Pháp luật và Phát triển (PLD)

I. Xâm chiếm Biển Đông – Trung Quốc lợi dụng Luật quốc tế như thế nào.

Trung Quốc lợi dụng khái niệm-học thuyết về quyền lịch sử.
Trung Quốc yêu sách chủ quyền đối với hầu hết vùng Biển Đông được giới hạn bởi đường 9 đoạn, và gần đây là 10 đoạn, thể hiện trên bản đồ do Trung Quốc công bố với lý do toàn bộ vùng biển nằm phía trong đường 9 đoạn là thuộc chủ quyền của Trung Quốc với danh nghĩa là quyền lịch sử.
Học thuyết về quyền lịch sử đã được không ít quốc gia viện dẫn như là căn cứ để khẳng định yêu sách về chủ quyền đối với vùng nước của Vịnh có địa mạo lấn sâu vào đất liền của một hoặc nhiều quốc gia, với cửa Vịnh lớn hàng chục, hàng trăm hải lý. Có thể liệt kê một số Vịnh đã hoặc có thể mang danh nghĩa lịch sử như sau: Vịnh Chasepeak (Hoa kỳ), Vịnh Candal, Grandville (Pháp), Vịnh Chaleur (Canada), Vịnh El-Arab (Ai cập), Vịnh Hudson (Canada), Vịnh Laholm và Skendevikel (Thụy điển), v.v…

Học thuyết về quyền lịch sử đối với vùng nước của Vịnh khởi nguồn từ đầu thế kỷ XIX được các quốc gia có Vịnh sử dụng nhằm khẳng định chủ quyền của quốc gia ven bờ. Vùng nước Vịnh lịch sử thường được tuyên bố là Vùng Nội thủy, hoặc Lãnh hải của quốc gia ven Vịnh, có chế độ pháp lý như chủ quyền đối với đất liền.

Lập luận của các chuyên gia luật quốc tế, của các thẩm phán Tòa Trọng tài Thường trực, cũng như của Tòa án quốc gia khi xem xét các vụ tranh chấp về danh nghĩa lịch sử của Vịnh thường tập trung vào một số chứng cứ chủ yếu như sau: Thời gian sử dụng và chiếm hữu Vùng nước Vịnh, ý nghĩa lịch sử về mặt kinh tế và chính trị của vùng nước Vịnh đối với quốc gia ven Vịnh, thái độ của các quốc gia khác về hành vi và căn cứ yêu sách của quốc gia đòi hỏi danh nghĩa lịch sử đối với Vịnh.

Công ước Luật Biển năm 1982, tại Điều 10.6. có nhắc đến khái niệm ‘vịnh lịch sử’, mà không có quy định nào khác về ‘vịnh lịch sử’ hay ‘vùng nước, vùng biển lịch sử’. Như vậy, khái niệm ‘danh nghĩa lịch sử’ hay ‘quyền lịch sử’ không chính thức được pháp điển hóa và thể hiện trong Luật Biên quốc tế. ‘Quyền lịch sử’ chỉ được sử dụng trong các yêu sách của các quốc gia ven một Vịnh cụ thể đòi hỏi để xác định chủ quyền đối với vùng nước Vịnh với chế độ pháp lý của vùng Nội thủy, hoặc Lãnh hài.

Khi đưa ra yêu sách đòi chủ quyền với gần hết Biển Đông dựa trên đường 9 đoạn tự phác thảo, Trung Quốc đã được đề nghị giải thích và làm rõ tọa độ trên hải đồ, Trung Quốc đáp lại một cách đơn giản – đó là ‘quyền lịch sử’, mà không hề đưa ra căn cứ để chứng minh.

Xét dưới góc độ Luật Biển quốc tế, yêu sách đường 9 đoạn của Trung Quốc ở Biển Đông – là hoàn toàn không có căn cứ, hoàn toàn không dựa vào bất cứ quy định nào của Công ước Liên Hợp Quốc năm 1982 về Luật Biển.

Trung Quốc cố tình lập lờ vận dụng học thuyết về danh nghĩa lịch sử để áp đặt các quốc gia ven Biển Đông một yêu sách vô lý về Vùng biển nằm trong đường 9 đoạn trên Biển Đông.

Đồng thời, với những hành động trên thực địa như hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 trong Vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt nam, xâm chiếm bãi cạn Scarborough của Philipnes, tiến hành tôn tạo nền bãi cạn Gạc Ma (Trung Quốc dùng vũ lực chiếm của Việt Nam), v.v… – phải chăng Trung Quốc đang đặt cược vào việc ngụy tạo những ‘bằng chứng lịch sử-pháp lý’ để khẳng định cho ‘quyền lịch sử’ của Trung Quốc tại Biển Đông?

Nhiều chuyên gia Luật quốc tế tin rằng Tòa Trọng tài Thường trực trong phán xét đơn kiện của Philippines sẽ bác bỏ cái gọi là ‘quyền lịch sử’ của Trung Quốc ở Biển Đông.
Trung Quốc lợi dụng Công ước Luật Biển năm 1982 đòi chủ quyền ở các vùng biển không thuộc về Trung Quốc.

Cùng với Việt Nam là thành viên của Công ước Luật biển năm 1982* , nhưng Trung Quốc không nghiêm chỉnh tuân thủ các quy định của Công ước này. Như vậy, Trung Quốc đã và đang vi phạm một trong những nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế – Nghĩa vụ của các quốc gia thành viên Liên Hợp Quốc phải nghiêm chỉnh và thiện chí tuân thủ cam kết quốc tế (nguyên tắc Pacta Sunt Servanda).

Năm 1996, Quốc hội Trung Quốc đã thông qua Luật Lãnh hải và Vùng tiếp giáp, quy định lãnh hải rộng 12 hải lý, áp dụng cho cả 4 quần đảo ở Biển Đông, trong đó có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Năm 1998, Trung Quốc ban hành Luật về Vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, khẳng định cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đều có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa riêng mà Trung Quốc gọi là “vùng nước phụ cận”.

Đây là hành vi vi phạm nghiêm trọng Luật Biển Quốc tế. Yêu sách chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường sa chưa bao giờ được Việt Nam và các nước ven Biển Đông chấp nhận. Hơn thế nữa, Trung Quốc đã dùng vũ lực xâm chiếm toàn bộ các đảo ở Hoàng Sa và một số đảo, bãi cạn thuộc quần đảo Trường sa mà Việt Nam quản lý.

Việc dùng vũ lực để giành danh nghĩa chủ quyền đối với lãnh thổ các đảo ở Hoàng Sa và Trường Sa – là hoàn toàn không phù hợp với Luật quốc tế, và không mang lại cho danh nghĩa chủ quyền của Trung Quốc đối với các đảo, bãi cạn này. Do đó, dù có lợi dụng quy định của Công ước Luật Biển năm 1982 về các vùng biển, việc Trung Quốc ban hành Luật năm 1996 và năm 1998 về các vùng biển – là hoàn toàn trái với nguyên tắc Pacta Sunt Servanda được quy định tại điều 2 của Hiến chương Liên Hợp Quốc.

Không chỉ mượn Luật Biển Quốc tế để làm thành luật quốc gia nhằm tạo căn cứ cho yêu sách chủ quyền ở Hoàng Sa, Trường Sa, Trung Quốc còn sử dụng quy định của Công ước Luật Biển năm 1982 để biện minh cho hành vi xâm chiếm vùng biển của Việt Nam, giải thích bóp méo quy định của Công ước Luật Biển. Trong văn bản trình ra Liên Hợp Quốc ngày 8/6/2014, Trung Quốc cho rằng:

“Giàn khoan doanh nghiệp Trung Quốc thực hiện các hoạt động trong Vùng tiếp giáp của Trung Quốc tại Hoàng Sa”. Trước đó, Trung Quốc tuyên bố rằng giàn khoan Hải Dương 981 nằm trong Vùng lãnh hải của Trung Quốc, cách đảo Tri tôn 17 hải lý, nay lại tuyên bố rằng giàn khoan nằm trong Vùng tiếp giáp.

Việc sử dụng những khái niệm ‘Lãnh hải’, ‘Vùng tiếp giáp’ theo ngôn từ của Công ước Luật Biển năm 1982 – dường như thể hiện Trung Quốc đang nghiêm chỉnh tuân thủ Luật Biển quốc tế.

Tuy nhiên, cần phải thấy rõ một số điểm quan trọng như sau: i) đảo Tri Tôn, một bãi cạn nằm trong quần đảo Hoàng Sa, cũng như cả quần đảo Hoàng Sa – chưa bao Trung Quốc có được danh nghĩa chủ quyền theo Pháp luật quốc tế và Luật Biển quốc tế; ii) đảo Tri Tôn – là một bãi cạn được kiến tạo nhờ các rạn san hô – không đủ điều kiện duy trì đời sống độc lập, và vì thế không thể có hiệu lực trong việc xác định vùng lãnh hải bao quanh (Điều 13.2) Công ước Luật Biển.

Giáo sư Carlyle A. Thayer đã nhận xét như sau về việc Trung Quốc lợi dụng luật pháp quốc tế:

“Bản tuyên bố lập trường của Trung Quốc đã được gửi đến Liên Hiệp Quốc để đánh bật các nỗ lực tuyên truyền và để cô lập Việt Nam. Đại đa số các thành viên của Liên Hiệp Quốc đều không có lợi ích trực tiếp trong cuộc tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông. Nhiều nước Đông Nam Á vốn e ngại các hành động của Trung Quốc, sẽ né tránh khi bị buộc phải công khai bày tỏ lập trường về vấn đề này.

Chiến pháp pháp lý, theo Walton, là một chiến lược sử dụng luật pháp Trung Quốc và quốc tế để tôn cao nền tảng pháp lý của việc Trung Quốc khẳng định quyền lợi của mình. Bản tuyên bố lập trường của Trung Quốc đầy rẫy những dẫn chứng trong luật pháp quốc tế được chọn lọc để hỗ trợ cho lập trường của Trung Quốc”.

II. Chủ quyền với biển đảo sẽ mất – nếu không tiến hành ngay những hành động pháp lý-ngoại giao.

Ngày 8/6/2014 Trung Quốc phát hành Tài liệu lưu hành tại Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc tới đại diện của 193 quốc gia thành viên về lập trường của Trung Quốc đối với dàn khoan Hải Dương 981, vu khống Việt Nam khiêu khích, gây đâm va tầu thuyền của Trung Quốc 1416 lần và đưa ra một số chứng cứ thể hiện Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Hành vi này của Trung Quốc thể hiện một cách dứt khoát, không nhân nhượng và bác bỏ công khai việc đàm phán với Việt Nam về chủ quyền của Việt Nam ở quần đảo Hoàng Sa. Việt Nam không còn lựa chọn nào khác nếu như không tiến hành ngay một số hành động pháp lý – ngoại giao như sau:

1) Nhanh chóng quyết định khởi kiện Trung Quốc ra trước Tòa án, Trọng tài quốc tế với những lý do như sau:

– Đáp ứng ý nguyện của nhân dân về hành động pháp lý kịp thời của Đảng và Nhà nước Việt Nam khẳng định chủ quyền biển, đảo của Việt nam ở Biển Đông.

– Thời điểm này dư luận quốc tế và Chính phủ nhiều nước ủng hộ Việt Nam giải quyết vấn đề chủ quyền và quyền chủ quyền phù hợp với Luật pháp quốc tế. Nếu không tiến hành khởi kiện Trung Quốc, dư luận quốc tế có thể sẽ nghi ngờ về căn cứ pháp lý, chứng cứ lịch sử về chủ quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, Trường sa và các vùng biển của Việt Nam ở Biển Đông.

– Nếu không tiến hành khởi kiện Trung Quốc về hành vi xâm lấn, dùng vũ lực tại Vùng đặc quyền kinh tế của Việt nam, thì dường như Việt Nam chấp nhận những bước thôn tính tiếp theo của Trung Quốc xuống các đảo ở Trường Sa, cũng như trên các vùng biển của Việt Nam ở Biển Đông.

– Nếu không khởi kiện Trung Quốc sẽ làm cho dư luận quốc tế hiểu lầm rằng Việt Nam mặc nhiên thừa nhân Công thư năm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng và các chứng cứ khác mà Trung Quốc nêu ra trong tài liệu lưu hành tại Liên Hiệp Quốc ngày 8/6/2014.

– Nếu không đáp lại văn bản ngày 8/6/2014 của Trung Quốc bằng việc quyết định khởi kiện ngay Trung Quốc ra trước Tòa án, Trọng tài Quốc tế – sẽ làm giảm giá trị pháp lý của đơn kiện Trung Quốc về sau này, cũng như tạo cho Trung Quốc cơ hội củng cố thêm chứng cứ của mình.

– Về mặt thủ tục khởi kiện, khởi kiện tại Tòa án Công lý Quốc tế LIên Hiệp Quốc (ICJ), Tòa án Quốc tế về Luật Biển (ITLOS) hay Trọng tài Thường trực La Hay (CPA), cũng như hồ sơ pháp lý, chứng cứ lịch sử và nội dung của đơn kiện – có thể khẳng định rằng Việt Nam hoàn toàn đủ năng lực và căn cứ để thắng kiện.

2) Khẩn trương tiến hành đệ đơn yêu cầu Hội đồng Bảo an hoặc Đại hội đồng Liên Hợp Quốc trưng cầu ý kiến tư vấn pháp lý theo quy định tại Điều 96.1. Hiến chương Liên Hiệp Quốc về yêu sách của Trung Quốc ở Biển Đông.

– Việt Nam có thể đề nghị Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc ra quyết định trưng cầu ý kiến tư vấn pháp lý của Tòa án Công lý Quốc tế về những yêu sách của Trung Quốc ở Biển Đông (đường 9 đoạn, quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa). Trường hợp này không thuộc phạm vi biểu quyết theo đa số với sự nhất trí của cả 5 thành viên thường trực Hội đồng Bảo an (trong đó có Trung Quốc). Như vậy, quyết định của Hội đồng Bảo an có thể được thông qua theo đa số (9/15), không bị ảnh hưởng bởi quyền phủ quyết của Trung Quốc theo quy định của Điều 27.2. Hiến Chương Liên Hiệp Quốc. Sử dụng biện pháp này sẽ có nhiều thuận lợi cho Việt Nam trong bối cảnh Hoa kỳ, Anh, Pháp – đều là thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an có quan điểm ủng hộ các bên làm rõ về mặt pháp lý các yêu sách ở Biển Đông (theo Tuyên bố của Hội nghị Thượng định nhóm nước G7 ngày 5/6/2014) .

– Việt Nam cũng có thể đạt được mục đích tương tự bằng việc đề nghị Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc ra quyết định trưng cầu ý kiến tư vấn pháp lý của Tòa án Công lý Quốc tế. Trong trường hợp này, quyết định của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc có thể được thông qua theo đa số thông thường trên tổng số đại diện có mặt và bỏ phiếu theo Điều 18.3 Hiến chương Liên Hợp Quốc. Sử dụng biện pháp này, đòi hỏi nhiều nỗ lực hơn trong việc vận động ngoại giao với các nước thành viên Liên Hiệp Quốc so với việc dùng biện pháp nêu trên.

3) Đưa sự kiện Trung Quốc đang sử dụng vũ lực xâm chiếm tại vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam ra trước Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc.

Theo quy định tại Điều 34 Hiến chương Liên Hiệp Quốc, Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc có thẩm quyền điều tra và xem xét về tính chất và mức độ đe dọa hòa bình và an ninh quốc tế của hành vi Trung Quốc dùng vũ lực tại khu vực giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam.

Trước tình hình Trung Quốc ngày càng tỏ ra quyết liệt trên thực địa, cũng như trên các diễn đàn ngoại giao, truyền thông quốc tế, vu khống Việt Nam, đưa ra những ‘chứng cứ’ không phù hợp và trung thực, vấn đề này được đưa vào Chương trình Nghị sự của các nước thành viên Hội đồng Bảo an, trong đó có Mỹ, Anh và Pháp – những thành viên thường trực, sẽ là một cơ hội quan trọng, làm bộc lộ rõ những hành vi Trung Quốc vi phạm pháp luật quốc tế, qua đó sẽ thể hiện lập trường chính nghĩa, phù hợp pháp luật quốc tế của Việt Nam.

Cho dù Trung Quốc sẽ sử dụng quyền phủ quyết (veto) để bác bỏ một Nghị quyết của Hội đồng Bảo an về vấn đề này, việc bàn thảo tại Hội đồng Bảo an về mức độ gây hại cho hòa bình và an ninh tại Biển Đông sẽ có sức mạnh về ngoại giao và pháp lý cho cuộc đấu tranh của Việt Nam chống Trung Quốc xâm chiếm, thôn tính các vùng biển và đảo của Việt Nam.

4) Biện pháp hòa giải giữa Trung Quốc và Việt Nam theo thiện chí của ông Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc.

Biện pháp này phụ thuộc vào sự sẵn sàng của cả hai bên. Tuy nhiên, cần phải xem xét về nội dung hòa giải. Nếu hòa giải về việc Trung Quốc xâm chiếm Vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, thì Việt Nam chắc chắn không chấp nhận việc biến vùng không tranh chấp thành vùng có tranh chấp.

Nếu hòa giải về chủ quyền của Việt Nam ở quần đảo Hoàng Sa, thì Trung Quốc không bao giờ chấp nhận những nội dung này. Hơn nữa, nếu Trung Quốc chấp nhận hòa giải, Việt Nam cần cảnh giác với thủ đoạn dùng biện pháp hòa giải để kéo dài thời gian giống như việc đàm phán Bộ quy tắc ứng xử (COC) với các nước ASEAN. Nếu Việt Nam đồng ý hòa giải, Việt Nam sẽ không thể đồng thời đưa vụ việc chủ quyền biển, đảo ở Biển Đông ra trước Tòa án, Trọng tài quốc tế. Như vậy, Việt Nam không nên tính đến giải pháp này.

Việt Nam là một quốc gia yêu chuộng hòa bình và luôn có tinh thần thượng tôn pháp luật quốc tế. Những biện pháp nêu trên nếu được tiến hành ngay sẽ là những công cụ pháp lý – chính trị hữu hiệu để bảo vệ giang sơn bờ cõi mà ông cha ta từ bao thế hệ để lại. Đây là sứ mệnh lịch sử của cả Dân tộc trong giai đoạn hiện nay. Nếu chậm trễ trong hành động – những người lãnh đạo đất nước này sẽ phải chịu trách nhiệm lịch sử trước Dân tộc Việt Nam.

Hà nội, ngày 1/7/2014