Việt gian trong lịch sử -phần 5: Việt gian Nguyễn Ánh – Gia Long (tiếp)

Tác giả: Nguyễn Ngọc Lanh
.
KD: Bạn bè iu quí gửi cho bài viết này. Xin đăng lên đẻ bạn đọc chia sẻ. Đây hoàn toàn là cách nhìn riêng của tác giả, với cách viết khá dân dã, hấp dẫn.
Chủ Blog chỉ xin được biên tập một vài chỗ về câu chữ cho phù hợp tinh thần Blog KD/ KD
Chân dung phác họa vua Gia Long qua nét vẽ của một họa sĩ người Pháp. (Nguồn tài liệu thư viện Pháp)
Chân dung phác họa vua Gia Long qua nét vẽ của một họa sĩ người Pháp. (Nguồn tài liệu thư viện Pháp)

Đọc thêm: https://kimdunghn.wordpress.com/2015/04/28/viet-gian-trong-lich-su/(Phần I và II)

https://kimdunghn.wordpress.com/2015/04/28/viet-gian-trong-lich-su-phan-iii-va-iv/

http://nghiencuulichsu.com/2015/05/07/viet-gian-trong-lich-su-phan-5/

A. Tổ tiên (việt gian) Nguyễn Ánh
1- Đánh giá cho đúng
Việt Nam ta từng có nhiều cuộc chiến lớn, phạm vi cả nước, mà hai bên đối địch là đồng bào, cùng ngôn ngữ, cùng… thương vong cả đống. Đó là Đinh Bộ Lĩnh đánh các sứ quân, Lê đánh Mạc, Trịnh đánh Nguyễn, Tây Sơn đánh Nguyễn Ánh… Tất nhiên, phe bị đánh không ngồi yên chịu chết. Số dân đông lên, quy mô mở rộng, vũ khí cải tiến… nếu lại thêm sự xúi giục của ngoại bang, các cuộc chiến càng về sau càng đẫm máu, sự trả thù hậu chiến càng tàn khốc, oán hận càng kéo dài. Đây là điều rất khác với chiến tranh chống ngọai xâm. Dẫu “một mất, một còn” với nhau, nhưng khi nói về công lao lập quốc, cả hai bên đối địch vẫn phải đời đời nhớ ơn các vua Hùng – như môn Lịch Sử đã dạy mọi học sinh. Hình tượng là hai anh em đánh nhau chí mạng nhưng cùng khấn vái trước bàn thờ phụ mẫu. Chỉ cần dạy thêm các cháu phải nhớ ơn cả các chúa Nguyễn – ngang với nhớ ơn Hùng Vương – là đủ.

a- Các vua Hùng có công dựng nước.
Hùng Vương dựng nước, các triều đại kế tiếp giữ lấy nước; nhờ vậy chúng ta có lịch sử ba hoặc bốn ngàn năm.

Thế nhưng, còn chuyện mở rộng bờ cõi? Lịch sử loài người phải trải qua thời kỳ các dân tộc đồng hóa và thôn tính lẫn nhau. Dân tộc nào không mở rộng được bờ cõi sẽ bị thôn tính và đồng hóa. Phải nói rằng đến cuối triều Hậu Lê, diện tích nước ta hầu như không mở rộng mà còn thu hẹp so với thời họ Khúc. Cụ thể, dưới thời thuộc Đường, giải đất chúng ta đang sống (hiện nay) có tên là Tĩnh Hải Quân, gồm 12 châu. Khi Ngô Quyền xưng vương (mở ra kỷ nguyên độc lập) nước ta chỉ còn 8 châu phía Nam – tức mất đứt 1/3 diện tích. Tuy các triều đại kế tiếp đã cố gắng lấn dần về phía Nam, nhưng rất chậm chạp – suốt 700 năm chỉ tới được Thuận Hóa. Tính ra, trung bình mỗi năm lấn vào phía Nam được 100-150 met. Vùng mới mở vẫn chưa bù lại được diện tích đã mất từ thời còn là Tĩnh Hải Quân. Do vậy, có thể nói thời kỳ mở cõi thật sự bắt đầu từ thời các chúa Nguyễn.

b- Nguyễn Hoàng và các chúa Nguyễn có công mở cõi
Năm 1558, ngay khi Nguyễn Hoàng trấn thủ đất Thuận Hóa, quá trình mở cõi bắt đầu. Chỉ cần trên 200 năm (so với mấy ngàn năm dựng nước), dòng họ này đã làm tăng gấp đôi cương thổ đất nước, trong đó riêng Nguyễn Hoàng mở thêm 4500 km2 – bằng tỉnh Phú yên hiện nay. Trung bình, mỗi năm các chúa Nguyễn “mở” thêm 5000 met về phía nam – so với 100 mét trước đây.

Tâm trạng và chí hướng Nguyễn Hoàng gói trong hai câu thơ bất hủ:
Từ thuở mang gươm đi mở cõi
Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long
– Người con đất Việt này đi “mở cõi”, theo nguyên văn câu thơ – chứ không phải “mở nước” (để lập nước mới). Đừng dùng sai từ. Và “ngàn năm” sau, ông vẫn thương, vẫn nhớ đất Thăng Long. Thì ra, sau năm 1945 chỉ có mỗi một mình Huỳnh Văn Nghệ (1914-1977) hiểu thấu và thương cảm Nguyễn Hoàng.
– Thời nay, Thăng Long có đường Hùng Vương, nhưng Thăng Long lại không thèm biết đến Nguyễn Hoàng, mặc cho Nguyễn Hoàng cứ khắc khoải thương nhớ Thăng Long!

c- Các dòng họ khác, có thể lập nên những triều đại dài hàng trăm năm, có thể có công nhiều mặt, nhưng công lớn nhất vẫn chỉ là giữ được độc lập và toàn vẹn đất đai tổ tiên để lại. Làm sao dám so với công dựng nước và mở cõi của các vua Hùng và các chúa Nguyễn?

B. Đối xử với các chúa Nguyễn và hậu duệ
1- Đối xử độc ác nhất
Triều đại Tây Sơn, mà trực tiếp là anh hùng Nguyễn Huệ, đã đối xử độc ác nhất đối với các chúa Nguyễn, kể cả với các vị đã khuất. Đó là cách nhìn hiện nay. Tuy nhiên, đây là cách đối xử theo “lệ” ngàn năm của chế độ phong kiến xưa; do vậy khó trách. Thời nay, có thể gọi cách đối xử này là “tàn bạo”, “dã man”, “tiểu nhân”…. Gọi thế, là để tránh cái “lệ”… hễ nội chiến là y như rằng “bên thắng cuộc” trả thù hàng triệu người “bên thua cuộc”, chứ không phải để trách cứ thời xa xưa. Thời quân chủ, có luật tục của nó.

Đích thân anh hùng Nguyễn Huệ đã tận diệt cả quá khứ, hiện tại của dòng họ chúa Nguyễn; nhưng ông vẫn tâm niệm: Còn phải tiêu diệt cả tương lai dòng họ này, mà hiện thân là cá nhân Nguyễn Ánh. Về thành tích cụ thể (sử sách quên chưa nêu) có thể nói gọn rằng: đấng anh hùng này đã “đào mồ, cuốc mả” bảy vị chúa Nguyễn (chưa hề gây oán với ông), giết tươi 2 vị đương chức và 1 vị thế tử (sẽ kế ngôi: Nguyễn Phúc Đồng). Đồng thời, ông tìm mọi cách truy diệt nốt (nhưng không thành công) vị tôn thất cuối cùng: tức Nguyễn Phúc Ánh.
Ở trên, cứ dài dòng kể công “mở cõi” của vị chúa khởi thủy Nguyễn Hoàng, chứ nếu anh hùng Nguyễn Huệ tìm được mồ mả vị chúa này, ắt cũng khai quật tanh bành và tung hê di cốt cho hả dạ. Xem bảng dưới.
1- Nguyễn Hoàng

7 vị chúa bị Tây Sơn đào mộ, phá lăng:
2- Nguyễn Phúc Nguyên; 3- Nguyễn Phúc Lan; 4- Nguyễn Phúc Tần;
5- Nguyễn Phúc Thái; 6- Nguyễn Phúc Chu; 7- Nguyễn Phúc Chú;

8- Nguyễn Phúc Khoát

Nguyễn Phúc Luân
(hay Nguyễn Phúc Côn)
bị Trương Phúc Loan giết

9- Nguyễn Phúc Thuần
Được Trương Phúc Loan
đặt lên ngôi chúa năm 12 tuổi
Bị Tây Sơn giết lúc 23 tuổi
Không có con

sinh ra

10- Nguyễn Phúc Dương
(bị Tây Sơn giết) Anh: Nguyến Phúc Đồng
(bị Tây Sơn giết)
Em: Nguyễn Phúc Ánh
(bị truy diệt, may thoát chết)

Chú thích. Nguyễn Phúc Luân (đã trưởng thành) được cha là chúa Nguyễn Phúc Thuần chỉ định lên ngôi chúa; nhưng ông bị quyền thần Trương Phúc Loan giết đi, để đưa một vị chúa “nhãi con” lên thay: Nguyễn Phúc Thuần. Tây Sơn khởi nghĩa dưới chiêu bài chống sự lộng quyền của Trương Phúc Loan, để “lập hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương lên ngôi chúa”. Dân chúng hưởng ứng; nhưng sau đó chính Tây Sơn lại giết Phúc Dương, giết luôn cả Phúc Thuần và Phúc Đồng. Dẫu sao, hậu duệ Nguyễn Phúc Luân vẫn còn sót lại Nguyễn Ánh – người khôi phục được sự nghiệp tổ tiên.

2- Đối xử tàn tệ nhất
Không những lờ tịt công, mà còn vu tội “bán nước” để mạt sát. “Gia Long bán nước” là thành ngữ của hàng chục triệu người, từ cụ già sắp chết đến cháu bé tiểu học. Quả là kỳ tích. Nếu chính xác, phải hiểu rằng Nguyễn Ánh khi chưa lấy lại được nước, chỉ có thể bán cái (hy vọng) sẽ có. Nhưng khi ông trở thành Gia Long, lịch sử cho thấy ông không để mất tấc đất nào. Thật ra, quan điểm đó chỉ nhằm phục vụ hai mục tiêu chính trị rất “trước mắt”:

a- Nguyễn Ánh phải phục vụ mục tiêu ca ngợi cách mạng bạo lực.
Tây Sơn là khởi nghĩa của nông dân. Loại khởi nghĩa này xảy ra nhan nhản dưới chế độ phong kiến, bên tàu cũng như bên ta. Dù chúng thành công (lập triều đại mới) hay thất bại (bị gọi là giặc), thân phận nông dân rốt cuộc vẫn thê thảm như khi chưa khởi nghĩa. Khốn nỗi, theo quan điểm do cụ Lenin khẳng định, giới sử học cách mạng nước ta cần chứng minh khởi nghĩa Tây Sơn chính là một cuộc cách mạng. Cách làm dễ nhất là thuyết phục mọi người: Nguyễn Ánh là “tên phản động”… Đúng vậy, nếu không có “phản động” sẽ chẳng có “cách mạng” nào hết.

b- Nguyễn Ánh phải được xây dựng thành “con người mới”… bán nước
Đó là “con người mới toe” trong danh sách Việt Gian, được “xây dựng” theo hình mẫu mà thời thế cần. Thời điểm này, mặt trận Việt Minh bắt đầu vũ trang đánh Pháp để giành lại độc lập (1942), và ngay sau đó là công cuộc chống Pháp tái xâm lược (1946-1954). Nguyễn Ánh phải là một tấm gương xấu để răn đe những ai – đã, đang, hoặc sắp – cộng tác với Pháp.
Việc “xây dựng con người mới bán nước” đã thành công ngoài mong muốn, mặc dù cách làm rất cổ điển. Té ra, đây là cách làm hiệu quả với cả gương tốt lẫn gương xấu, chính diện hoặc phản diện.

Cách cổ điển xây dựng “con người mới” (chính diện và phản diện)
Đó là gán cho “con người mới” những phẩm chất mà ta muốn (dù không thực tế) để mọi người buộc phải tỏ thái độ (yêu, ghét).

Đánh Pháp đã xong (1954), lẽ ra phải miễn nhiệm cho người đã khuất. Nhưng mà không! Mỹ sẽ thay Pháp. Vẫn cần cảnh cáo đối với bất cứ ai đã, đang và sắp cộng tác với đế quốc Mỹ.  Cụ thể là tìm cách mở rộng khái niệm “đế quốc” như thế nào đó, để Hoa Kỳ (tuy không có thuộc địa, và là nơi đề xướng giải phóng thuộc địa) phải “trở thành” tên đế quốc đầu sỏ; miễn cãi. Xem ra, chả có ai trong chúng ta hơn được Lenin, với công trình dự báo số phận của chế độ tư bản: Chủ nghĩa đế quốc là giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản. Đến nay, đã là đời “chắt” của Lenin, nhưng chủ nghĩa tư bản vẫn chưa phát triển đến “giai đoạn tột cùng”.

C. Nam Bộ: đất phục hưng cơ nghiệp

Anh hùng Nguyễn Huệ dù sống thêm chục năm, dù xóa được triều đình “vua anh” (Nguyễn Nhạc) để có cả một dải Bắc Bộ – Trung Bộ, nhưng nếu không giết được Nguyễn Ánh, ông vẫn không thể chiếm nốt Nam Bộ. Năm 1789 Nguyễn Huệ đánh đuổi giặc Thanh, nhưng trước đó (1788) Nguyễn Ánh – sau 10 năm bôn ba, thoát chết – đã vững chân vĩnh viễn ở Nam Bộ. Như vậy, chưa bao giờ Nguyễn Huệ thực hiện được hoài bão hợp lòng dân: Thống nhất đất nước. Và, sớm hay muộn, triều Tây Sơn sẽ bị Nguyễn Ánh xóa sổ – dù có thể muộn hơn năm 1802.

– Năm 1744 chúa Nguyễn Phúc Khoát chia xứ Nam Hà thành 12 dinh, trong đó vùng Nam Bộ (từ ngữ hiện nay) gồm 3 dinh: Trấn Biên, Phiên Trấn và Long Hồ. Riêng tên các dinh đã đủ nói lên đây là vùng đất biên viễn, còn hoang dã, đầy sông hồ, xa trung ương, chưa kịp củng cố, khai thác và phát triển. Việc này dành cho Nguyễn Ánh. Cũng chính nhờ vậy, đất đã không phụ người: Nguyễn Ánh hưng nghiệp từ đây.

– Khi Trương Phúc Loan gây oán hận cho dân, chỉ dân Trung Bộ hứng chịu và do vậy mà nổi loạn, chứ dân Nam Bộ thì không. Vùng đất phì nhiêu này đủ nước và ánh sáng để cây cối và cá mú sinh sôi, sản vật phong phú, người dân di cư tới cứ tự do khai thác và hưởng thụ, với thuế khóa rất nhẹ. Họ chịu ơn chúa Nguyễn, chứ không chịu ơn Tây Sơn. Họ chỉ thấy mỗi lần Tây Sơn đem quân đến là có máu đổ, tan hoang, lương thực bị cướp (để tải về miền Trung nuôi quân). Mặt khác, những người Trung Quốc không thần phục sự cai trị của nhà Thanh khi xin trú ngụ ở nước ta, hầu hết được ở Nam Bộ.

Dám vượt trùng khơi, đây đúng là những con người kiên dũng, to gan, đầy chí tự lập, tự cường… mà đứng đầu là các tướng lĩnh, các học giả. Và trình độ văn minh cao hơn ta. Sử sách gọi họ là người “Minh Hương”. Được phép trú ngụ ở 3 dinh biên viễn, họ càng thỏa chí và đã góp công rất lớn phát triển vùng đất này. Họ biết ơn chúa Nguyễn (đạo Nho), ra mặt chống Tây Sơn, do vậy Tây Sơn căm ghét họ không cần che dấu. Có lần Tây Sơn tàn sát tới 10 ngàn dân Minh Hương. Hỏi làm sao Tây Sơn có thể cắm rễ lâu dài ở đây? Chính vì vậy, trước đó 10 năm, khi Tây Sơn khởi nghĩa, chiếm được Quy Nhơn, lại vừa lúc họ Trịnh vượt sông Gianh chiếm được Phú Xuân, triều đình chúa Nguyễn bị nghẽn ở giữa, đã ra biển dong buồm vào thẳng Nam Bộ. Đất này đã che chở và không phụ công những người đã “mở cõi”, khai thác và phát triển nó.

D. Hành vi “bán nước”?
1- Có thể bán nước cho ai?
Bán nước không dễ, nếu trong tay không có nước, hoặc không được người mua hy vọng “sẽ có nước”. Ngoài ra, còn phụ thuộc vào vốn liếng (sức mạnh) và mức độ liều lĩnh của người mua.
a) Chúng ta sống cạnh nước lớn, từng đô hộ nước ta cả ngàn năm. Sau đó, dù ta đã hết sức giữ phận, nhưng hễ hở cơ là hứng ngay nguy cơ mất nước. Với tâm thức ấy, bất cứ người Việt nào muốn cầu viện nước ngoài – dù mới là ý định – là đủ bị kết tội “bán nước” – một tội cực nặng. Nhiều trường hợp kết tội bán nước quá dễ dãi. Do vậy, vu khống “bán nước” cũng là tội nặng không kém.

b) Nhưng với các nước nhỏ ngay cạnh ta (Lào, Chiêm, Miên) thì khác. Và với nước ở xa ta (Xiêm) lại càng khác. Dù được mời mọc “mua nước Việt” các nước này cũng không đủ vốn liếng và đủ can đảm để mà mua. Thời xa xưa, Ngô Nhật Khánh cũng rao “bán nước” cho vua Chiêm Thành. Vua Chiêm đã động binh. Cuộc mua bán không thành là do cả đoàn thuyền chiến gặp bão. Dẫu sao, đây chỉ là chuyện người bán khéo nói (trong tay không có nước) và hứa “một tấc tới trời”, còn người mua cả tin và chưa tự lượng sức… Chứ, sau này thực tế lịch sử cho thấy không có chuyện Chiêm chiểm Việt, mà là ngược lại. Mua-bán nước kiểu này thì cả hai bên chỉ như đánh bạc, dễ mất vốn như chơi.

– Với Ai Lao cũng vậy. Nhiều người Việt (ví dụ Nguyễn Kim) từng muốn “tranh bá đồ vương” đã nhiều lần mượn đất Ai Lao làm căn cứ địa. Nếu Ai Lao đủ lớn, đủ mạnh, sẽ thấy đây là cơ hội xâm chiếm nước ta. Nhưng điều đó không bao giờ xảy ra, vì Ai Lao bé nhỏ “lo giữ thân chưa xong”.

– Từ khi nước ta (chúa Nguyễn) biết tới Cao Miên, lập tức nước này toàn chịu thiệt – mà nước “đàn anh truyền thống” (tức Xiêm) không thể cứu nổi đàn em. Từ đó, Cao Miên ngả sang Việt, coi thường Xiêm, thậm chí chống lại sự xâm lấn của Xiêm. Không gì khôi hài bằng nói “bán nước cho Miên” (hoặc cho Lào).

– Trong quan hệ Việt-Xiêm, hầu hết trường hợp Xiêm đều ở thế lép vế. Xem lại lịch sử, khi Xiêm đồng ý đem quân giúp Nguyễn Ánh cũng là lúc Xiêm đang yếu thế trước Tây Sơn. Lịch sử không nói rõ Nguyễn Ánh đã hứa bù đắp gì cho Xiêm, do vậy chỉ có thể suy đoán. Cần suy đoán có lợi cho bị cáo, ngược với trước đây chỉ toàn suy đoán “có tội”. Xiêm chọn giúp một bên chỉ nhằm có lợi trong quan hệ đối ngoại, trước hết là để đỡ thiệt trong quan hệ Xiêm-Miên, hoặc – nếu Nguyễn Ánh (may mắn) lấy lại nước – sẽ tránh được sự trịch thượng của Tây Sơn. Và lớn nhất, có thể được Nguyễn Ánh bù đắp bằng của cải. Thế thôi. Không thể có chuyện Nguyễn Ánh sẽ “cắt đất” Việt dâng cho Xiêm. Thời đó, Việt Xiêm cách trở về địa lý, nước Xiêm làm sao có thể “khiêng đất” này về Bangkok? Làm sao Xiêm đủ sức và liều lĩnh đưa quân chiếm đóng?

Mượn quân nước ngoài không phải chuyện hiếm. Bán nước hay không phải dựa vào cách trả công đội quân đánh thuê. Nếu chúng không nhân đó chiếm đóng lâu dài nước sở tại, thì có thể… OK.

Để khỏi cãi vã vô ích, xin nói rằng: chuyện để quân Xiêm nhập Việt, thêm nữa (không ngờ) chúng còn tàn bạo với dân… là vết đen trong tiểu sử Nguyễn Ánh.

2- Bán nước cho Pháp?
Thời đó, hành động duy nhất của Nguyễn Ánh bị đời sau lên án là một hiệp ước (1787) được ký kết giữa giám mục Bá Đa Lộc (thay mặt Nguyễn Ánh, có đứa trẻ 4 tuổi làm “con tin”) với triều đình Pháp, trong đó có “nhượng một đảo và một cửa biển”. Wikipedia đã nói khá rõ, khá đủ và khách quan chuyện này. Quan tòa lịch sử có thể coi đây là một trong những tư liệu để luận tội.

a) Sự tin tưởng nhau giữa Nguyễn Ánh và Bá Đa Lộc
Khi hai anh ruột và chú ruột bị giết (1777), Nguyễn Ánh mới 17 tuổi, ngoại tộc không ai thèm biết tới ông, nhưng nội tộc vẫn tôn ông lên ngôi “soái” và đặt một trách nhiệm quá nặng lên vai ông. Cuộc đời chiến đấu không ngờ lâu tới 25 năm.
Khi trốn chạy quân Tây Sơn, Nguyễn Ánh gặp Bá Đa Lộc ở đảo Thổ Chu. Từ đó họ gắn kết với nhau suốt đời.

Hai cách nhìn
– Một cách nhìn cho rằng Nguyễn Ánh là vị chúa Nguyễn cuối cùng (1777), nhưng thành công nhất (từ ngôi chúa bước lên ngôi vua, lập triều đại mới: 1802). Cũng có người coi năm 1777 Nguyễn Huệ đã chấm dứt họ Nguyễn. Sau đó 12 năm (1789) ông chấm dứt nốt họ Trịnh. Chỉ cần thế, ông xứng đáng là người có công thống nhất đất nươc. Đây là một cách nhìn khác.

– Nguyễn Ánh gặp Bá Đa Lộc (hơn ông 19 tuổi) vào lúc bĩ cực nhất. Họ cùng cộng khổ, chia sẻ gian nan, chung thủy suốt đời. Ông dám giao hoàng từ Cảnh 4 tuổi cho giám mục và ủy quyền cầu viện nước Pháp. Có người coi đây là tấm gương về tình bạn, về ý chí kiên định mục tiêu (một bên muốn mở rộng “nước Chúa”, một bên muốn lấy lại giang sơn cho dòng họ). Nhưng cũng có người coi đây là sự câu kết giữa kẻ bán nước và quân cướp nước. Đó là tùy góc nhìn của mỗi cá nhân.

c) Kết quả việc ký và thi hành hiệp ước
Năm 1783 phái đoàn Bá Đa Lộc được thành lập, năm sau mới có thể lên đường. Dọc đường đầy trắc trở, đến cuối năm 1787 mới ký được hiệp ước. Hai năm sau, triều đình Pháp bị cách mạng lật đổ, hiệp ước không thể thi hành. Bá Đa Lộc phải tự đi quyên góp, huy động cả gia sản riêng (15.000 francs) để mua tàu, mua súng, mộ sĩ quan… Và cuối năm 1789 phái đoàn mới về tới Gia Định. Như vậy, trước thời điểm này, Nguyễn Ánh chưa nhìn thấy hiệp ước, chưa biết nội dung cụ thể. Sử sách không ghi lại ý kiến của Nguyễn Ánh ra sao khi ông được đọc cái hiệp ước bất khả thi này. Cụ thể, không rõ ông có “duyệt” nó hay không. Thực tế, hiệp ước không còn giá trị nữa, thì “duyệt” hay không, là chuyện tào lao. Ông dành hết thời gian, suy nghĩ, huy động lực lượng phản công Tây Sơn cho đến khi hoàn toàn thắng lợi.

d) Tội đến đâu?
Hiệp ước nói trên mãi mãi là vệt tối trong tiểu sử Nguyễn Ánh, mặc dù ông chẳng nợ nần gì triều đình Pháp và nước Pháp. Nếu có tội, thì mới là tội “trên giấy”, chưa đáng bị một lãnh tụ CS phê phán là ”Vì muốn giành làm vua mà Gia Long đem nước ta bán cho Tây. Thế là giang san gấm vóc tan tác tiêu điều, con Lạc cháu Hồng hoá làm trâu ngựa”. Chính vị lãnh tụ (và sau đó là nhiều nhà sử học) không phân biệt Nguyễn Ánh với Gia Long: hai thời kỳ khác nhau của một con người. Dẫu sao, nhờ câu trên, Nguyễn Ánh lột xác thành “con người mới” và có cơ hội phục vụ cách mạng – như trên đã nói.

Tiếp lần sau: Phong trào Tây Sơn và lẽ ra Nguyễn Ánh phái hành xử thế nào
———-

Nguồn: nghiencuulichsu.com