Trận đánh không có trong sử sách

Tác giả: Trần Xuân Trà
.
KD: Bạn bè mình gửi cho bài viết này. Bài viết của một người lính vào sinh ra tử ở chiến trường những năm chiến tranh khốc liệt. Câu chuyện rất thật và rất đau đớn, khiến mình đọc mà cứ nghẹn cổ. Chiến tranh là vậy, xương máu, chết chóc, những hy sinh và những nhầm lẫn… , tất cả đều có thể xảy ra.
.
Chỉ còn mấy ngày nữa là đến 30/4. Người lính Trần Xuân Trà viết lại một câu chuyện đau lòng này, hẳn để dịu lại những xa xót của vết thương chiến tranh trong chính tâm khảm anh, khi anh nhớ lại những đồng đội không may mắn, trong đó có người bạn thân của anh.
.
Xin được chia sẻ, và Blog KD/KD đăng bài viết này, như nén tâm nhang thành kính thắp cho những người lính đã ngã xuống
—————-
Tôi và Đà cùng nhập ngũ một ngày từ Trường cấp 3 của huyện, chúng tôi cùng xã nhưng Đà học lớp khác. Chúng tôi thân nhau từ sau ngày nhập ngũ do có cùng hoàn cảnh: mẹ mất sớm và ở với mẹ kế . Những khổ đau và tủi nhục cả thể xác và tâm hồn chỉ những người trong cuộc mới thấu hiểu. Vì thế chúng tôi tự nhiên gắn kết với nhau và chẳng giấu nhau điều gì, luôn lo lắng cho nhau nhất là trong hoàn cảnh chiến tranh nay còn, mai mất.
Chúng tôi vào chiến trường  Bình-Trị – Thiên cuối năm 1970 và chuẩn bị đạn gạo cho các trận đánh năm 1971 tại Thừa thiên. Đột xuất, đối phương tấn công các căn cứ hậu cần tiếp viện cho toàn miền nam dọc đường 9 – Nam Lào gọi là cuộc hành quân Lam sơn 719 , chúng tôi bị điều gấp ra tham gia chiến dịch. Sau khi kết thúc chiến dịch, đơn vị chúng tôi được ra Bắc cúng cố và đóng quân và huấn luyện ở Khu rừng già miền tây tỉnh Quảng Bình. Bốn tháng trời huấn luyện vất vả, đơn vị được hành quân giá ngoại xuống đồng bằng bắn đạn thật xã Liên Thủy, huyện Lệ Thủy Quảng Bình. Thật không may tôi bị sốt rét không đi được phải ở lại trông hậu cứ.

Không biết tình quân dân như cá với nước thế nào hết đợt giá ngoại trở về Đà vui vẻ hẳn lên. Tối hôm đó cùng ngủ một hầm Đà vui vẻ tâm sự: đã yêu một cô gái Lệ thủy và kể hết cho tôi nghe diễn biến cuộc tình và cả cảm giác ngọt ngào của tình yêu đầu đời giữa anh lính trận và cô thôn nữ. Tôi chỉ là anh lính tò te chỉ hình dung tình yêu qua sách vở, nhưng tôi cũng mừng cho bạn đã có người để thương để nhớ. Nhưng không ngờ đó là mối tình đầu tiên và cũng là cuối cùng của anh bạn tôi.
 
Ảnh: Bao hatinh.vn
Tết Nhâm tý 1972, tranh thủ mấy ngày ngừng bắn giữa hai bên để đón xuân, đơn vị tôi lại cấp tốc vượt Trường sơn vào lại chiến trường. Mắc dù sau 8 tháng sống ở hậu phương, sức khỏe chúng tôi có khá hơn phần nào, nhưng bọn lính học trò chúng tôi phải mang vác súng đạn quá nhiều nên vô cùng mệt mỏi. Ngoài quân tư trang không tính mỗi người thấp nhất cũng phải mang theo 15 ngày gạo ăn trên 10 kg,lại 2 quả lựu đạn, cuốc xẻng và nặng nhất là sung 12ly 7 các bộ phận tháo ra vác vai mỗi người từ 20- 30 kg.
Đường lại cắt rừng mà đi, nên khó khăn vô cùng có những cái dốc phải leo 4-5 tiếng mới tới đỉnh. Tôi và Đà là những người yếu trong đơn vị thường về tới tập kết sau cùng, có lúc đi sườn núi bị ngã, mảnh súng 12 ly 7 đập vào chân suýt gẫy, đau điếng và tôi đã bật khóc như đứa trẻ và hình dung lúc này ở hậu phương mọi người đang sum họp, chúc tết, vui xuân.
Cuộc tấn công tỉnh Quảng trị bắt đầu nổ súng đầu tháng 3/1972 sau mấy ngày nổ súng chúng tôi đã bóc xong tuyến phòng thủ bên ngoài của đối phương. Thị trấn Đông Hà, cảng Cửa việt và Thị trấn Cùa được giải phóng, chúng tôi lại gấp rút chuẩn bị cho tấn công đợt 2 giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng trị. 
Xác định cuộc chiến sẽ vô cùng cam go ác liệt, nên mặt trận bổ sung cho hướng chúng tôi một đơn vị xe tăng gồm 7 chiếc T 34. Xe tăng đươc chở trên tầu hỏa vào đến Vinh rồi tự hành quân vào Quảng trị. Xe tăng T34 do Liên xô chế tạo có khả năng lội nước, nhưng chỉ để vượt sông suối với cự ly vài ba trăm mét.
Do điều kiện chiến trường Việt nam, đoàn xe tăng nói trên phải hành quân khá dài từ Vinh vào Quảng trị, điều kiện bảo dưỡng kỹ thuật kém, có lúc lại phải bơi dọc song Ba lòng hang chục km xuống để đảm bảo bí mật bất ngờ. Vì vậy, hai chiếc bị trục trặc kỹ thuật và chìm trên sông Ba lòng, còn lại 5 chiếc. Quân số cũng hao hụt do ốm đau, bị thương nhập viện hoặc trở lại hậu phương.
Quân số thiếu, đơn vị xe tăng xin bổ sung nhân lực để ngồi trên tháp pháo xe tăng bắn súng 12 ly 7 và Trung đoàn đã quyết định rút một số người của đơn vị chúng tôi tăng cường cho xe tăng. Ngày định mệnh đén với chúng tôi khá đột ngột, buổi sáng như thường lệ chúng tôi tập trung bên bờ suối để triển khai nhiệm vụ chiến đấu, anh Trung đội trưởng thông báo hiện trên đang cần mấy đồng chí của trung đội ta sang làm nhiệm vụ bắn 12 ly 7 trên xe tăng đồng chí nào xung phong thì ưu tiên, nếu không thì chúng tôi sẽ cử. Trung đội trưởng vừa dứt lời Đà xung phong ngay.
Tôi hơi choáng và kéo Đà ra bìa rừng nói nhỏ: “ Cậu suy nghĩ kỹ chưa, theo mình chưa chắc như vậy đâu, khéo không ăn quả lừa. Với lại đi hướng ấy ác liệt lắm đấy Cậu phải cẩn thận”. Đà chỉ kịp trả lời” “Tớ xin sang xe tăng đây, hành quân được ngồi xe đỡ vất vả, ở đơn vị mình mang vác cực lắm” .Cuộc chia tay diễn ra ngắn ngủi. Đà cùng số anh em nhập vào đơn vị xe tăng lên đường chiến đấu. 
Quảng Trị tháng 4 năm 1972 đúng là mùa hè đỏ lửa theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng. Cái nóng hầm hập thiêu đốt mặt đất cộng với tiếng pháo chát chúa của cả hai phía dồn dập trút xuống mảnh đất đau thương này. Cây cỏ và con người oằn mình dưới mưa bom bão đạn của B 52, pháo hạm, mặt đất lúc nào cũng rung lên như muốn hủy diệt mọi sự sống nơi đây. Trận địa chúng tôi nấp dưới rặng tre bờ sông Nhùng, con sông không lớn, nhưng nước đục ngầu do bom đạn và xác lính nổi đặc mặt nước.
Những cái xác cởi trần đã trương phình, quần đùi đỏ quần đùi hoa dập dờn bốc mùi hôi thối. Nước ăn không có chúng tôi phải đào các giếng nước to bằng chiếc mũ sắt cạnh bờ sông, cách các xác người chừng nửa mét để lấy nước ăn. Còn người cả 2-3 tuần không tắm, ghét đầy người nếu dùng ngón tay cái miết từ khuỷu tay đến cổ tay là được hòn bi bằng ghét ngửi toàn mùi người chết không biết do mồ hôi hay do ăn nước sông đầy xác chết.
Ngoài kia là Quốc lộ 1. Dòng người, dòng xe ô tô của đối phương và dân di tản chạy vào Huế dài vô tận, cầu vào TP Huế đã bị đánh sập, nên người và xe dồn ứ lại dài hàng chục km. Khung cảnh hỗn loạn như ngày tận thế, bom rơi, đạn nổ xe cháy, người chết. Rồi con nhỏ lạc cha, vợ lạc chồng kêu khóc inh ỏi một vùng. Trời nằng như đổ lửa, cả lính, cả dân chui vào tránh nắng trong các gầm xe, lại bị trúng đạn B40, B41 cả người cả xe cháy đen thui co quắp, gặp nắng nóng trở nên vô cùng nhầy nhụa và hôi thối. Khi hành quân qua, tôi không dám nhìn ngang để khỏi phải chứng kiến những hình ảnh ghê rợn này của chiến tranh. Ôi chiến tranh thật đáng nguyền rủa.
Bờ biển Hải Lăng hẹp nhưng chạy dài, nước biển trong xanh hơi sâu, bờ cát trắng thoai thoải , thỉnh thoảng lại xuất hiện các cồn cát, lưa thưa vài rặng phi lao nhưng xác xơ vì nóng và bom đạn. Đoàn xe tăng của đơn vị chúng tôi xuất kích tầm 4 giờ 30 sáng, có nhiệm vụ truy kích đối phương tháo chạy theo dọc bờ biển . Chiếc đi đầu có cả Trung đoàn phó và vài phóng viên mặt trận. Xe vừa đi được một đoạn vượt lên rìa một cồn cát thì bị tụt xích phải dừng lại nhường đường cho chiếc thứ 2 lao lên. Chiếc xe thứ 2 tăng tốc ra khỏi chân cồn cát thì một vệt sáng lòa kèm theo tiếng nổ lớn của hỏa tiễn chống tăng được phóng ra. Chiếc xe khựng lại và bốc cháy dữ dội 3 chiếc còn lại triển khai đội hình thành mũi tên và thi nhau rót hỏa lực về phía đối phương. Trận đánh ác liệt bắt đầu mờ sáng 30/4/1972.
Đau lòng thay, các chiến sĩ xe tăng trong đó có bạn tôi đâu biết rằng đối phương mà các anh đang nhả đạn lại là các đồng đội bộ binh của Trung đoàn 8 cùng sư đoàn. Do công tác hợp đồng tác chiến kém cỏi mà để hai đơn vị cùng sư đoàn choảng nhau 30 phút đồng hồ. Khi trời sáng dần, hai bên nhận ra nhau thì thiệt hại vô cùng lớn: những chiếc xe tăng vô cùng quý giá nâng niu gìn giữ từ ngoài bắc vào trở thành sắt vụn trừ chiếc tụt xích. Anh em trên xe tăng hầu hết đã hy sinh. Phía đơn vị bộ binh trung đoàn 8 cũng tổn thất nặng nề. Để bắn hạ được 4 chiếc xe tăng hung dữ và gan dạ ấy người ta đã phải đánh đổi cả trung đội bộ binh. Bãi biển trống trải, phía bộ binh cứ triển khai được hỏa lực là bị lộ, lập tức bị xe tăng tiêu diệt.
Cồn cát nhấp nhô làm khuất tầm bắn, cánh bộ binh nhanh chóng khiêng khấu DKZ 82 lên cồn cát để bắn vỗ mặt tốp xe tăng, nhưng lập tức bị phát hiện, xe tăng chỉnh pháo bắn bay cả cụm, xác người lẫn vũ khí bay lên không trung và rơi lả tả. Sau này tôi được nghe những người sống sót kể lại thật đau lòng: Phía bộ binh nói với nhau “ Xe tăng bọn nào mà gan dạ thế, hôm qua gặp xe tăng ngụy bắn cháy 1 chiếc là chúng bỏ xe chạy, hôm nay chúng chiến đấu đến chiếc xe tăng cuối cùng “. Trên xe tăng cũng tương tự các chiến sĩ vừa nhả đạn vừa hỏi nhau: bọn lính bộ binh của sư ngụy nào nào mà can đảm thế, chiều qua gặp địch chỉ bắn một loạt pháo là chúng chạy như vịt, hôm nay chúng đánh trả đến cùng.”
Các bạn ơi! Thật không có từ nào diễn tả được sự đau đớn tận cùng, khi hai phía của trận đánh nhận ra nhau vừa khóc vừa đi làm tử sĩ, những con người hốc hác, mệt mỏi quần áo, tóc tai cháy xém, nước mắt chảy dài khi khiêng xác đồng đội đi chôn. Những thân hình cháy đen xương thịt hòa lẫn vào nhau, không còn nhận dạng được ai. Bỗng nhiên văng vẳng bên tai tôi một đoạn trong bài hát Năm anh em trên một chiếc xe tăng của nhạc sĩ Doãn Nho:….Khi lên xe không còn tên riêng nữa. 
Vẫn biết cuộc sống là vô thường, là sắc sắc không không. Vẫn biết chiến tranh là chết chóc, tang thương. Vẫn biết chỉ có chiến tranh người ta bắn giết lẫn nhau mà không cần truy cứu trách nhiệm. Nhưng đối với tôi cái chết của các anh là vô cùng tức tưởi vì oan uổng. Trận đánh đã qua đi 44 năm, không ai nhắc đến các anh trong sử sách . Ngay cả những cuộc hội thảo người ta chỉ chăm chăm tranh công đổ lỗi. Nhắc đến các anh làm gì? Vì nó là vết nhơ của những người cầm quân.
Bốn tư năm các anh đã nằm lại nơi đây, tuy không ấm áp bằng quê nhà, nhưng có biển xanh, cát trắng, nắng vàng lại có dãy Trường sơn sừng sững để tựa lưng về phong thủy cũng là nơi có thể an giấc ngàn thu.
Đối với chúng tôi, những người may mắn trở về. Nhiều anh em vô cùng vất vả vì bệnh tật, vì mưu sinh miếng cơm, manh áo. Riêng tôi và một số anh em may mắn hơn có công ăn việc làm vì vậy phần nào vất vả cũng được vơi đi ít nhiều.
Tuy nhiên, trong góc khuất của tâm hồn, trận đánh oan nghiệt của các anh mờ sáng ngày 30/4/1972 trên bãi biển huyện Hải Lăng và các Liệt sĩ – bạn bè tôi như những oan hồn vẫn còn đâu đó trong những giấc ngủ chập chờn nửa mơ nửa thực hàng chục năm trời.( bên Mỹ họ gọi là Hội chứng chiến tranh ). Điều này đã thôi thúc tôi ghi chép lại một cái gì đó một cách chân thực, dù muộn mằn nhưng cũng là một nén hương thành kính dâng lên ngày giỗ trận của các anh.
Biết đâu sau này lũ con cháu tôi lục lại đống giấy vụn của người quá cố chúng có thể đọc, may ra chúng có thể hiểu thêm những thời khắc nghiệt ngã mà ông cha chúng đã trải qua. Mà chắc gì chúng đã đọc, mấy lời ghi chép lộn xộn, không đầu không cuối chưa thoát khỏi lỗi chính tả bài tập làm văn của ông học sinh già lẩm cẩm.

Ở đâu đó bên bãi biển Hải Lăng, bạn Đà của tôi đã nằm lại? Với mối tình đầu tiên năm xưa, cũng là mối tình cuối- của một người lính…
Hải Dương tháng 4/2016