Ngày Giỗ chú Sáu Dân, kể chuyện kinh ông Kiệt

Tác giả: Nguyễn Minh Nhị (Trích…)

KD: Nhân sắp đến Ngày giỗ ông Sáu Dân (tức cố TT Võ  Văn Kiệt), anh Bảy Nhị, nguyên Chủ tịch tỉnh An Giang gửi cho mình bài viết này. Một bài viết mà theo nhận xét của Ts Tô Văn Trường, mộc mạc, chân thành, rất  sâu sắc của người am hiểu thực tế.

Xin đăng lên để bạn đọc chia sẻ

Cảm ơn anh Bảy! 😀


Năm 1996, Thủ tướng Võ Văn Kiệt (giữa) đi thị sát vùng tứ giác Long Xuyên (khu vực đầu nguồn An Giang. Ảnh: VOV. vn

Kinh T4, T3 tỉnh An Giang mới đào xong ở phía mình (chưa thông qua đất Kiên Giang), kết hợp kinh xương cá (cấp 3) công tác khai hoang đang có trớn. Tôi muốn đào kinh T5 to hơn kinh T6 và nối thẳng T6 vào kinh Vĩnh Tế. Nhân mùa nước lớn năm 1996, Thủ tướng Võ Văn Kiệt, Phó Thủ tướng Phan Văn Khải về, tôi trình bày ý tưởng thoát lũ kết hợp dẫn nước ngọt vào sâu Tứ giác Long Xuyên. Sau đó, Thủ tướng và Phó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng mấy lần về khảo sát, có các chuyên gia trụ cột ngành thủy lợi như Phó giáo sư Hồ Chín, giáo sư Nguyễn Sinh Huy, giáo sư – viện sĩ Nguyễn Văn Hiệu, tiến sĩ Tô Văn Trường Viện Quy hoạch Thủy lợi miền Nam và phái viên Thủ tướng: Đặng Văn Thượng… cùng đi hoặc đi nghiên cứu thực địa riêng.

Có người ở Bộ Thủy lợi (cũ) không đồng tình (vì Bộ Thủy lợi đã nhập qua Bộ Nông nghiệp), nói với tôi: “Ông Sáu như Bao Công, đi đâu cũng có Triển Chiêu, Công Tôn Sách…”, hay “Vật lý đi làm thủy lợi là làm tay trái…” Tôi cãi lại: “Đây là qui hoạch của Bộ Thủy lợi, nhưng anh Dinh (Bộ trưởng đã nghỉ) không đủ uy (quyền) và lực (tiền) và anh còn ngại “tuột nước kinh Vĩnh Tế” nên không làm. Nay có điều kiện, làm để dẫn ngọt, kết hợp mở rộng để thoát lũ và làm cống ven biển kiểm soát mặn thì tốt quá!”. Riêng Kiên Giang, lúc đầu phản đối mạnh.

Hôm họp hai tỉnh, có Bộ chủ trì.  Lần cuối trước khi khởi công tại Văn phòng Ủy ban tỉnh An Giang, đồng chí Phó Sở phụ trách Thủy lợi Kiên Giang nói: “Vừa sợ tuột nước Vĩnh Tế, vừa đẩy phèn ra biển, làm ô nhiễm môi trường”. Đồng chí Phó Chủ tịch không phát biểu. Sau họp, các đồng chí lặng lẽ rút lui, nhưng sau nầy, khi công trình hoàn thành thấy có kết quả, các đồng chí cũng vui vì thành quả chung.  Hôm thông kinh T5 cũng kịp vào mùa nước 1997, anh em chúng tôi xuôi dòng ra tới biển. Theo dòng T5, nước bạc, cá linh ra tới biển Tây. Bà con hai bên bờ cho chúng tôi biết, chưa bao giờ có việc nầy! Riêng tôi là người từ nhỏ lớn lên, kể cả nhiều năm trong kháng chiến, cơ quan tôi di chuyển tới lui quanh vùng nầy, hiểu ý bà con nói hơn ai hết.

 Cái chính là qui hoạch của Bộ Thủy lợi (cũ). Tôi chỉ có công đề xuất ý tưởng kết hợp thoát nước mà khi tham khảo được tiến sĩ Tô Văn Trường và các giáo sư đồng ý. Để có luận chứng khoa học, Anh Trường đưa lên mô hình toán thủy lực, thủy văn để đánh giá hiệu quả công trình và phân tích các mặt được và mất, khi nước bờ Bắc Vĩnh Tế dâng lên ngập bên bạn Campuchia để trình Thủ tướng xem xét, quyết định.

Ý tưởng có được, vì suốt cuộc đời từ nhỏ đến lớn, tôi sống ở vùng nầy, nên có chú ý theo dõi, ghi nhớ các sự kiện ở các điểm cần thiết qua những năm nước lớn. Đặc biệt, tháng 10.1969, khi qua Lộ Đứt (đoạn cầu cạn bây giờ), chúng tôi kéo xuồng qua lộ mà phía bờ Đông nước lấp lé mặt lộ, phía bờ Tây mực nước hụt hơn cả mét; mũi xuồng chúi xuống, nước tràn vào. Những năm nước lớn, con lộ hay bị nước phá đứt một đoạn dài, nên có tên là “Lộ Đứt”. Phần nầy, tôi đã có nhắc ở đoạn trước: “Bách nhật tại tù”. Tôi đề xuất làm cầu cạn ở Lộ Đứt, mở rộng T4, đào lớn T5, mở rộng T6 tại cầu sắt Vĩnh Thông (làm lại cầu mới có khẩu độ lớn hơn) rồi nối dài vào kinh Vĩnh Tế, đoạn gần giáp đầu kinh Tân Lập-Lê Trì sẽ tháo nước ra biển Tây nhanh hơn.

Thủ tướng chỉ đạo quyết liệt, Bộ tổ chức vừa thiết kế vừa thi công. Kinh T4 được đào lớn ra thêm và thông ra biển, đoạn tỉnh thi công trước đó còn để lại một nhánh ngoài đầu vàm như hiện nay thành “đoạn ruột thừa” là một bằng chứng lịch sử của công trình. Tuyến kinh Vĩnh Tế, trước đó Bộ Thủy lợi đã nạo vét, nay tiếp tục vét mở rộng và làm con đê ngăn nước từ bờ Nam kinh Vĩnh Tế, bít bảy cầu đoạn Châu Đốc-Nhà Bàn để xây dựng hai đập cao su Trà Sư- Tha La chủ động ngăn-tháo nước. Thế là một công trình thủy lợi liên hoàn có tầm thế kỷ ở vùng nầy, hoàn thành chỉ trong ba năm (1996-1999). Riêng kinh T5, chỉ trong năm 1997 là xong. Đây là niềm vui lớn thứ hai, sau khi được cái ranh đất mở rộng thêm 9.000 ha đất nông nghiệp, lập thêm hai xã mới là Lương An Trà và Vĩnh Phước, huyện Tri Tôn. Hôm khởi công đào kinh T5, tôi cho quay hai con heo, cùng Chánh Văn phòng Ủy ban Nguyễn Quốc Khánh và các ngành vào đến tận công trình, giữa đồng không mông quạnh, trước làm lễ cúng đất đai và người khuất mặt, khuất mày, sau khao anh em công nhân trước khi khởi động công trình.

Nhớ hồi còn kháng chiến, ngày 20.10.1964, khi rời Đồng Tràm – Trấp Sẻ về Xóm Thúng – Lương Phi, tôi lẩm nhẩm làm bài thơ “Từ giã đồng tràm”, trong đó  hứa hẹn: “Ngày mai đất nước yên hàn/ Ta càng gần gũi với rừng thân yêu/ Đào kinh dẫn nước ngọt vào/ Khai hoang, dâm hạt giống vào nơi đây/ Máy cày hối hả đêm ngày/ Nông trường, nhà máy… ở đây đổi đời/ Người qua kẻ lại hết lời/ Trầm trồ khen ngợi những lời chứa chan”, như “hứa lèo”, vậy mà ba mươi hai năm sau lại thành sự thật.

Mùa Xuân năm 1996, sau đợt I khai thác Tứ giác Long xuyên, cánh đồng tràm xưa bị phá sạch sau Giải phóng, trơ trọi cỏ năng và phèn nặng, nhưng nay đã thành cánh đồng lúa và cây công nghiệp cùng Nhà máy tinh bột khoai mì đang xây dựng và làng mới Lương An Trà mọc lên. Tôi nhớ bài thơ xưa, lại hứng khởi làm thơ: «Anh lại trở về nơi mình hẹn ước/ Tìm lại phút giây ngây ngất thuở nào/ Nơi rừng xanh , mật ngọt, chim kêu/ Nơi mặt nước xôn xao con cá quẫy/ Và tìm bóng hình em hồi con gái/ Tuổi dậy thì động đậy một tình yêu/ Để hôm nay ta có thật nhiều… » «Và đến được nơi mình hẹn ước/ Những dòng kinh và những con đường/ Những cánh đồng lúa mọc thay năng/ Làng xã mới rộn ràng chợ búa/ Trường ngói đỏ, đỏ khăn quàng đỏ/ Nhà cột bạch đàn, mái lợp rạ đưng/ Trạm xá mới xây thiếu thuốc, thiếu giường/ Trụ sở Ủy Ban vẫn còn của Ban dự án/ Nước dưới kinh còn khi phèn khi mặn/ Người với người vừa mới biết quen nhau/ Mà đã như thân thiết thuở nào/ Như chúng ta ngày đầu gặp gỡ/ Để sau đó trở thành chồng vợ/ Như mảnh đất nghèo nầy duyên nợ cùng anh/ Và hôm nay hẹn ước đã toại thành».

Thật mà như giấc chiêm bao! Hơn cả chiêm bao là 9.000 ha được điều chỉnh cho An Giang, cùng công trình thoát lũ ra biển Tây lịch sử mà Thủ tướng Võ Văn Kiệt để lại cho An Giang, Kiên Giang, mà mỗi lần nhớ đến là mỗi lần tôi thấy sung sướng, hơn cả phần thưởng là hai tấm Huân chương Lao động (II và I) Nhà nước tặng cho tôi gắn với thành công của “Chương trình khai thác Tứ giác Long Xuyên”.

Sau khi T6, T5, T4, T3 hoàn thành, đê bờ Nam kinh Vĩnh Tế và hai đập cao su Trà Sư, Tha La đưa vào vận hành mùa nước 1999 cũng là năm nước lớn thử thách công trình. Trước khi xả lũ, hai đập cao su, toàn bộ nước lũ núi của Campuchia không phù sa đều theo cái “máng xối” kinh Vĩnh Tế và T6, T5, T4, T3 thoát ra biển Tây. Nước ngọt phù sa sông Hậu theo các kinh trục dọc quốc lộ 91 Châu Đốc-Long Xuyên đi sâu vào vùng Tứ giác (khi chưa có công trình chỉ vào được khoảng 5km và đến tháng 10 thì theo kinh Mặc Cần Dưng đổ ngược ra sông Hậu). Đúng như dự đoán của tôi và tính toán chuẩn xác của anh Trường, Hồ Chín, Sinh Huy: Thoát lũ (nước xấu) rước phù sa vào sâu Tứ giác Long Xuyên, cải tạo hàng trăm ngàn hécta đất hoang phèn của An Giang và Kiên Giang thành đất màu mỡ sản xuất. Nhưng có cái không ngờ, phù sa vào đến tận huyện Hòn Đất, nghĩa là phủ ngọt toàn cánh đồng Tứ giác gần 500 ngàn ha. Từ khi có hệ thống T5 và các công trình thoát lũ, gần 10 năm, qua 3 mùa nước lớn vượt báo động 3 nhưng không xảy ra ngập lụt tệ hại như trước.

Dân biết người lãnh đạo có tâm, có tầm quyết định các công trình cho vùng đất này, nên thân mật gọi kinh T5 là “Kinh Ông Kiệt”. Và Tỉnh An Giang đã đặt tên ông cho con kinh nầy, xây cụm tượng đài kỷ niệm nơi mà khi làm công trình, tôi đã cho đồng chí Lưu Minh Thạch (Chủ tịch Tri Tôn) và Đỗ Đình Khoa (Giám đốc Công ty Thủy lợi tỉnh) san lấp mặt bằng tại đầu vàm kinh để chuẩn bị trước. Tôi và Ông cùng những người trong Tổ chuyên gia tư vấn cho ông từng chụp ảnh kỷ niệm tại đây. Nhân đó, tôi giới thiệu với Ông và những người cùng đi: “Nơi đây “hội danh” những nhân vật lịch sử qua ba công trình đào kinh: Vĩnh Tế – Thoại Ngọc Hầu, T5 – Võ Văn Kiệt và Kinh Mới – Ngô Đình Diệm!”. Ông ngạc nhiên: “Ủa! Có Ngô Đình Diệm nữa hả?”. Tôi thưa: “Trong bài tham luận tại hội thảo Vĩnh Tế – Thoại Ngọc Hầu… Tôi có nêu lên ý nầy”. Và tại mặt bằng đã san lấp ở đầu vàm kinh T5, tôi nói: “Nơi đây An Giang sẽ xây tượng đài Thủ tướng. Và nếu xây bằng đá granít thì cũng sẽ nặn tượng các ông (Nguyễn Văn Hiệu, Đặng Văn Thượng, Hồ Chín, Nguyễn Sinh Huy…) đứng phía sau, nhưng không phải bằng chất liệu đồng, đá mà là đất nung như tượng “chiến binh Tần Thủy Hoàng”. Tất cả đều cười vui vẻ. Vậy mà sau nầy, khi anh Nguyễn Văn Hiệu đề xuất và khen thưởng các anh Sinh Huy, Hồ Chín hàng trăm triệu đồng và vinh danh “Nhân tài Đất Việt”, cũng lắm lời ra tiếng vào, thậm chí cho rằng “tác dụng của công trình là tuyên truyền” và đã bị “cường điệu”. Anh Tô Văn Trường, Lê Phú Khải có bài phản biện lại, còn tôi buồn cho cái… người Việt mình hay như thế!

Nơi sẽ đặt tượng Ông.

Và Ông đang là tượng sống!

“Lồng lộng bóng soi miền sông nước”

“Đời nặng ân tình đất nặng chân” – Trích thơ “Thủ tướng của nhân dân”.

Theo quyết định của Hội đồng Nhân dân tỉnh tại kỳ họp thứ 14, ngày 10.7.2009 về việc đặt tên và xây dựng cụm công trình kỷ niệm người có công, được mời chấp bút, tôi đã mở đầu bài Văn bia khắc dưới chân dung ông tại đây: “Người nhờ đất sống. Đất nhờ người có tên. Người nhờ người dẫn lối. Nơi đây ngày 25.7.1996, Thủ tướng Võ Văn Kiệt …” đã quyết định đào kinh và xây dựng công trình thoát lũ ra biển Tây. Khởi công ngày 22.4 và hoàn thành 24.8.1997. Kinh dài 37.355 mét, đào đắp 6 triệu mét khối đất, kinh phí 97 tỷ đồng. Công trình dẫn ngọt, rửa phèn, tưới tiêu cho 16.000 ha Tứ giác Long Xuyên thuộc hai tỉnh An Giang và Kiên Giang.

“Kinh Võ Văn Kiệt tiếp nối Vĩnh Tế, Thoại Hà. Lịch sử 200 năm liên tục một dòng chảy cuộn tràn sức sống trên mảnh đất phương Nam. Các thế hệ Việt Nam sẽ nương dòng chảy ấy, hiên ngang ra biển lớn với tất cả đức tin, niềm tự hào và lòng biết ơn sâu sắc”. (Trích văn bia)

Con đường mà tôi đi qua, tính từ khi bước chân lên bờ Bắc Lương An Trà để đi về hướng núi Dài Lớn trong âm vang trống mõ Đồng Khởi 1960 – Mặt Trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam ra đời và rồi từ khi Đảng Đổi mới 1986 với cái mốc làm Giám đốc sở Nông nghiệp năm 1988, đến khi về hưu, tôi mới tự khẳng định mình. Tôi tự hào là bạn nhà nông, cùng họ làm nên từ một vụ lúa mùa quảng canh đến hai vụ, ba vụ lúa màu trên 240.000 ha đất nông nghiệp toàn tỉnh; nông dân không còn bốn tháng nông nhàn vào mùa nước nổi; làm tăng năng suất lúa lên 6 tấn/ha/vụ để đạt trên 3 triệu tấn lúa năm – bình quân tăng 100 ngàn tấn/năm; mở mang đất đai lãnh thổ rộng thêm 9.000 ha và thoát được cảnh ngập lụt hàng năm cho xứ mình. Đó là những năm tháng và việc làm mà tôi cảm thấy có ích nhất!

Làm được việc có ích là nhờ có người dẫn đường chỉ lối cho tôi: Ở tầm quốc gia là Thủ tướng Võ Văn Kiệt, ở tầm địa phương là Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Văn Hơn vì đã trao cho tôi toàn quyền mà không đòi có “bảo chứng” để làm cho nông nghiệp phát triển, nông dân giàu có từ những năm Đổi Mới!