Tàn sen, cảm một câu Kiều

Tác giả: Đào Dục Tú

Vẻn vẹn cặp đôi “trên sáu dưới tám” gói gọn cả một năm tứ thời bát tiết với những đặc trưng của  bốn mùa. Mùa hạ có sen bừng nở để người . . . xưa “hạ thưởng lục hà trì”-mùa hè hưởng cái thú tắm hồ sen hay hóng gió nồm nam thoảng hương hoa sen

————-

Những đầm sen,  ao sen,hồ sen rải rác khắp các làng quê vùng châu thổ sông Hồng còn giữ được không gian mặt nước hiếm hoi, người ta thấy lá sen đã bắt đầu héo tàn. Màu xanh ngọc miên man đưa đẩy theo gió nhẹ không còn nữa. Hoa mãn khai ,báo hiệu ngày hè cũng dần dần qua, chờ thu về.

         Trong ngữ cảnh thời gian  ấy, người viết chợt nhớ câu Kiều
                              Sen tàn cúc lại nở hoa
                          Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân
Vẻn vẹn cặp đôi “trên sáu dưới tám” gói gọn cả một năm tứ thời bát tiết với những đặc trưng của  bốn mùa. Mùa hạ có sen bừng nở để người . . . xưa “hạ thưởng lục hà trì”-mùa hè hưởng cái thú tắm hồ sen hay hóng gió nồm nam thoảng hương hoa sen. Hết hạ sang thu , thu có hoa cúc vàng. Mùa thu trong thi cảm phương đông xưa là mùa lá rụng hoa rơi,mùa của buồn nhân thế vô vọng , mùa của cái thú hàn nho thanh cao “thu ẩm hoàng hoa tửu”-nhấp chén rượu hoa  cúc để thấy đời còn ý vị ; tóm lại là mùa  thi ca nhạc họa ngày. . . xưa.

Cái “sầu mùa thu” cung cách cổ điển ấy ở xứ ta kéo dài lê thê mãi cho tới những năm 30, 40 thế kỷ trước bùng nổ văn học lãng mạn ảnh hưởng rõ rệt mỹ cảm văn chương Pháp- “tây hóa” , với  những biểu tượng đại loại như thơ Bích Khê “ô hay buồn vương cây ngô đồng-vàng rơi vàng rơi thu mênh mông” hay   Giọt Mưa Thu trong âm nhạc  của Đặng Thế Phong thánh thót rơi. Thu thì sầu dài mà mùa đông thì ngày ngắn. Dân gian có câu “ngày tháng mười chưa cười đã tối” là vì vậy. Con người  Việt Nam bình thường thời nào cũng  thế vốn sống giản dị lạc quan rất hay cười ; dù với đời thường mưu sinh lầm lụi vui buồn, thế mà có khi chưa kịp cười vui một tiếng với con với cháu với anh em bè bạn thì  ngày đông đã hết. Mùa  đông tán là  xuân sẽ  sang, một mùa biểu trưng cho tuổi trẻ, cho niềm vui sống hân hoan của trần gian muôn mầu

Trở lại với  câu thơ Kiều,với ngôn ngữ Việt. . Hai câu thơ để người đọc người nghe  đi qua bốn mùa xuân hạ thu đông; mỗi mùa là một nét thân quen với người Việt về cảnh sắc,về thời gian,về tâm cảm. Một trong những đặc điểm khiến thơ Kiều đọng lại ,ghi dấu ấn sâu sắc trong ký ức văn chương  nhiều thế hệ người Việt vào bậc nhất trong suốt trên dưới hai trăm năm mươi năm qua kể từ ngày Truyện thơ Kiều đến với độc giả là  thơ súc tích,giầu ý tưởng, ý tại ngôn ngoại.

Ngôn ngữ nghệ thuật  thơ người ta thấy rõ nét, bên cạnh phần điển cố văn chương  cùng  ngôn ngữ  Việt gốc Hán Việt trang trọng, ý tưởng sâu xa, phần lớn   là tiếng Việt đã được thi vị hóa phần nào trở nên thanh tao giản dị trong sáng,dễ hiểu,  dễ cảm, dễ nhớ. Phong cách song trùng bình dân  / bác học ấy đảm bảo  tính hấp dẫn của thơ Kiều đối với  bậc thức giả lẫn người bình dân với thể thơ thuần chủng trên sáu dưới tám cùng đủ loại vần,vần chân,vần lưng, và đủ loại. . . giai  điệu  thơ nhịp đôi, nhịp  ba,nhịp bốn. Ví như “vàng trăng khuyết/ đĩa dầu hao-Mặt tơ tưởng mặt/ lòng ngao ngán lòng. . . Ví như “Vân xem/ trang trọng/ khác vời- Khuôn trăng/ đầy đặn/ nét ngài/ nở nang” 

Câu thơ tự sự viện dẫn “sen tàn cúc lại nở hoa-sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân”  chỉ là một câu thơ kể tả bình thường, không gây ấn tượng gì quá đặc biệt. Người ta nhớ như nhớ đến thuộc lòng mấy ngàn câu Kiều khác, bên cạnh những câu thơ “tuyệt diệu từ”  như hạt châu hạt  ngọc lấp lánh, có biết bao nhiêu câu kể-tả bình thường như thế đã thêu dệt nên tấm thảm thơ vĩ đại truyền đời là truyện thơ Kiều hơn ba ngàn câu với đủ mặt nhân vật điển hình, đủ sự cố  lịch sử xã hội cũng như  thân phận, phẩm cách  nàng Kiều trong mười lăm năm lưu lạc.

Chỉ hai câu mà rút gọn cả bốn mùa ! Liên tưởng đến thơ lục bát thời a-còng, thơ đại chúng,người ta sẽ dễ nhận ra  một đặc điểm không sao  thuyết phục của nó về mặt nghệ thuật là thơ quá lụy vần vè, thơ truồi theo vần  , thơ dài dòng thơ miên man. . . Xin mạo muội viện dẫn một phiến đoạn người viết ngẫu nhiên đọc được trên báo
                                 Ba Đình Bác đọc tuyên ngôn
                                 Lời đanh thép giọng hung hồn oai phong
                                  Trăm năm mất nước xót lòng
                                   Tuyên ngôn độc lập non sông nước nhà
                                   Việt Nam dân chủ cộng hòa
                                    Hạnh phúc độc lập với là tự do

Dù người viết có thiện ý đến đâu người đọc người nghe cũng khó tiếp nhận được thơ lục bát dài dòng kiểu đó, chảy như nước lã ra sông, chảy miên man theo vần kiểu đó. Chợt nhớ ông hoàng thơ tình Xuân Diệu có nói đại ý thơ lục bát như con ngựa chạy nước kiệu, đều đều đơn điệu ,dễ làm khó hay . Lục bát ,thể thơ dân tộc quá quen thuộc như cái “bẫy” ai cũng tưởng mình làm được, ai cũng tưởng mình là. . . nhà thơ ! Nhưng hai trăm năm mươi năm có lẻ đã qua ,nào thấy ai hậu thế cụ Nguyễn Tiên Điền đã theo bén gót cụ ; nào thấy ai mạo muội “so dây đàn muôn điệu thơ” với Người ! Ai cũng biết  thơ bình dân có cái hay của thơ bình dân, đặc biệt ở ý tính chân thật giản dị, ngôn ngữ sát thực với cuộc sống sinh động đời thường. . . Song do tính không chuyên . . . nghiệp nên thơ  phong trào ,thơ đại trà thường rơi vào tình trạng dễ dãi quá,buông tuồng quá dài dòng lòng thòng câu chữ quá . .

Người viết thiển nghĩ : theo lời cổ nhân “ nghề chơi cũng lắm công phu”, nhất là chơi chữ nghĩa, có lẽ nào người viết con cháu cụ Nguyễn Tiên Điền không dụng công,dụng tâm  ? Từ câu thơ Kiều kể tả hàm súc chuyện bốn mùa, người viết nghĩ vu vơ  như thế !  . / .