Phản biện bài viết: Chọn Nhà nước pháp quyền hay nhà nước Pháp trị

Tác giả: Trương Nhân Tuấn

.KD: Ngay sau khi đăng bài Chọn Nhà nước pháp quyền hay nhà nước pháp trị, và đưa lên FB, mình nhận được bài viết này của tác giả Trương Nhân Tuấn do bạn đọc gửi cho. Để rộng đường dư luận, tôn trọng tính thông tin đa chiều, Blog KD/KD xin đăng nguyên văn bài viết này để bạn đọc chia sẻ, suy ngẫm.

—————

Nhan đề bài viết: 

Về cách dịch sang tiếng Việt các từ “rule of law” và “état de droit”.

Việt Nam trước sau có đến hai cụm từ “pháp quyền” và “pháp trị”, “nhà nước pháp quyền” và “nhà nước pháp trị”, để dịch hai thuật ngữ “rule of law” và “etat de droit”. Cả hai từ “pháp quyền” và “pháp trị” đều là từ Hán-Việt. Trước 1975, miền Nam sử dụng từ “pháp trị – rule of law” và “nhà nước pháp trị – etat de droit”. Từ đầu thập niên 90 trở lại đây, VN thống nhứt sử dụng từ “pháp quyền” và “nhà nước pháp quyền”.

“Rule of Law” khái niệm luật học của Anh, đặt nền tảng trên “thông luật” (common law). “Etat de Droit” khái niệm luật học của Pháp, đặt nền tảng trên “luật hiến định”.

Ảnh: Luatkhoa.org

statue-of-themis-senate-and-synod-building-in-st-petersburg

Câu hỏi đặt ra là cách dịch nào đúng ? Pháp quyền hay pháp trị ?

Đọc thêm: https://kimdunghn.wordpress.com/2016/10/15/chon-nha-nuoc-phap-quyen-hay-chon-nha-nuoc-phap-tri/

 

Để có câu trả lời thỏa đáng, điều tiên quyết ta cần phải hiếu ý nghĩa của “rule of law” là gì ? “Etat de droit” là gì ? Điểm cần nhấn mạnh, cả hai thuật từ này đều là thuật từ về “khái niệm”, vì vậy mọi cách dịch theo kiểu “mot à mot”, chữ đối chữ, là hoàn toàn không chính xác. Thí dụ, cách dịch “rule of law” là “qui tắc luật”, như đã thấy ở một số người Việt, là sai. Cũng như cách dịch “état de droit” là “nhà nước của quyền” (ở một vài học giả VN), là sai. Bởi vì chữ “droit” ở đây không thể dịch là “quyền” mà phải hiểu là “pháp luật”. Dầu thế nào, các cách dịch này không hề mở ra ý nghĩa nào mà các thuật từ “rule of law” và “état de droit” chuyên chở.

“Rule of Law – Etat de Droit”, đã nói, là các thuật từ khái niệm, vì vậy khó có thể diễn đạt hết ý nghĩa trong một dòng chữ, huống chi cô đọng trong đôi ba chữ. Trên thế giới có vô số sách xuất bản chỉ viết chung quanh ý nghĩa của hai thuật từ này. Dầu vậy, ý nghĩa của “Rule of Law” (quan điểm luật học của Anh) được các nước trong khối Châu u (tập hợp nhiều nước khác biệt với Anh về văn hóa, ngôn ngữ, luật lệ…) thống nhứt với ý nghĩa “sự ưu việt của pháp luật”. Tức là pháp luật đứng trên tất cả, kiểm soát và chi phối tất cả mọi vấn đề trong xã hội, kể cả việc thực thi “quyền lực quốc gia” và việc phân bổ quyền lực quốc gia.

“Etat de droit” (quan điểm luật học của Pháp) cũng được các định chế pháp luật Châu u định nghĩa như là “hệ thống định chế pháp luật nhằm xây dựng quốc gia mà trong đó mọi định chế quyền lực đều phải tuân theo pháp luật”. Pháp luật vượt trội (ưu việt) lên tất cả và mọi người. Mọi “tư cách pháp nhân” đều bình đẳng như nhau trước pháp luật.

Với ý nghĩa như vậy “Rule of Law” và “Etat de Droit” phải dịch ra sao ?

Thông thường, ở các thuật từ khái niệm (chuyên môn), người ta có hai cách dịch: 1/ dịch theo ý nghĩa tương đương hay 2/ dịch theo ngữ nghĩa.

1/ Về cách dịch tương đương, dùng một khái niệm để dịch một khái niệm có ý nghĩa tương đồng.

Nền văn minh Trung Hoa, (mà Việt Nam ảnh hưởng một cách sâu sắc), không hề có khái niệm tương đương “rule of law” hay “état de droit” như ý nghĩa của nó. Các dân tộc Trung Hoa và Việt Nam chưa từng có kinh nghiệm sống trong một xã hội dân chủ tự do (démocratie libérale) mà chỉ trong thể chế chính trị này “Etat de droit – Rule of law” mới có thể xây dựng.

Dầu vậy người ta tìm được một thuật từ có khái niệm gần giống, đó là “pháp trị”, một lý thuyết “dựa theo pháp luật để trị nước” của Hàn phi tử.

Điểm tương đương của hai khái niệm “pháp trị” và “rule of law” là “nhà nước dùng pháp luật để cai trị”.

Điểm khác biệt là thời kỳ xa xưa “pháp luật” của Hàn Phi tử không kiểm soát được “quyền lực chủ tể”. Trong khi chế độ dân chủ tự do hiện thời, “quyền lực chủ tể” thuộc về nhân dân (hay quốc hội). Quyền lực này phân chia thành 3 quyền độc lập (hành pháp, lập pháp và tư pháp), gọi là “tam quyền phân lập”. Ba quyền này kiểm soát lẫn nhau theo pháp luật và các việc phân bổ quyền lực cũng như việc thực thi quyền lực phải theo các qui định của pháp luật.

Về cách dịch tương đương, ta có trong ngôn ngữ Việt Nam nhiều thí dụ. “L’Académie française” thì dịch là “Pháp quốc Hàn lâm viện”, còn gọi là “viện Hàn lâm Pháp”. “Académie” là một danh từ riêng (khu vườn Akadêmos), làm sao dịch nghĩa được ? “Hàn lâm” nghĩa nguyên tiếng Hán là “rừng bút”, là tên một định chế học thuật VN thời xưa. Dịch tương đương, lấy tên một định chế học thuật của VN (viện Hàn lâm) để dịch tên một định chế học thuật Pháp, có tên là (khu vườn Akadêmos ). TQ dịch là “Pháp quốc Học thuật viện”.

Các quốc gia Đài Loan, Nhật, Nam Hàn, Trung Quốc (và VNCH cho đến 1975) chọn cách dịch tương đương, dùng “pháp trị” để dịch “rule of law” và “nhà nước pháp trị” để dịch “état de troit”.

2/Về cách dịch theo ngữ nghĩa. Tự điển tiếng Hoa dịch là “pháp quy – 法規” và “pháp trị 法治”. Ta thấy tương tự ở các tự điển Đài Loan, Hàn và Nhật. “Pháp qui” là cách dịch “chữ đối chữ”, còn “pháp trị”, là dịch “tương đương”, như đã nói ở trên.

Việt Nam hiện nay dịch “Rule of law – Etat de droit” là “Pháp quyền” và “Nhà nước Pháp quyền”. Cả hai từ “pháp” và “quyền” đều có gốc Hán.

Vấn đề là chữ “quyền” bắt nguồn từ “lễ” của Khổng giáo.

Mạnh Tử có nói: “Nam nữ thụ thụ bất thân, lễ dã, tẩu nịch viên chi dĩ thủ, quyền dã 男女授受不親, 禮也; 嫂溺援之以手,權也”. Nam nữ trao và nhận không được trực tiếp gần gũi với nhau, đó là lễ; chị dâu bị đắm chìm đưa tay ra vớt, đó là “quyền”.

Dùng một từ thuộc lãnh vực “lễ” (nhân trị) để dịch một từ có ý nghĩa về “luật” (pháp trị) là không chỉnh.

Mặt khác, về ngữ nghĩa, chữ “quyền 權” trong tiếng Hán chỉ có một cách viết duy nhứt, vừa chỉ cho quyền (droit, right) trong quyền lợi, hay quyền (pouvoir, power) trong quyền lực, hay luật (loi, law) trong “hệ thống luật”. Các chữ “quyền” trong quyền lực, chính quyền, nhân quyền, tam quyền phân lập… đều có cùng một cách viết.

Các từ “right-droit-quyền(lợi)”, “power-pouvoir-quyền (lực)”, “law-loi-quyền (thẩm quyền)”… đều là các từ “khái niệm”, có nội hàm hoàn toàn khác nhau, từ lãnh vực mô phạm, cách áp dụng cho đến các biện pháp thi hành.

Chữ “quyền” trong “pháp quyền” có nghĩa là gì ? Chưa thấy học giả VN nào xác định được ý nghĩa chữ “quyền” một các ổn thỏa và xác đáng.

Khi chưa xác định được ý nghĩa của chữ “quyền” là gì, mọi cách dịch đều mang tính gượng ép.

Cũng có giải thích cho rằng phải dùng từ “pháp quyền” vì “pháp trị” là “rule by law” (TS Hà hoàng Hợp giải thích trên BBC thứ năm 13-10-2016).

Ý kiến này thuộc về “trường phái” dịch “mot pour mot”, “chữ đối chữ”. Dĩ nhiên là không đúng và người ta không thể phản biện bằng cách “ngụy biện” như thế được. Chỉ ra một “sơ hở” của “pháp trị” để khỏa lấp những sơ hở lớn hơn ở cách dịch “pháp quyền” là “ngụy biện”.

Mà thực ra không có sơ hỏ nào. “Pháp trị” là một “khái niệm luật học”. Như đã nói, muốn hiểu nội dung của thuật từ này không thể đơn giản tìm hiểu trong, hay trên mặt câu chữ. Chính xác, “rule by law” phải dịch là “dụng pháp trị”, chớ không phải “pháp trị”.

Xưa nay “pháp trị” luôn là một từ “khái niệm”.

3/ Dịch theo ý của ông Hồ Chí Minh. Theo TS Nguyễn Sĩ Dũng trong bài “Hiến pháp 1946 với tư tưởng pháp quyền” :

“Năm 1919, trong Bản yêu sách được Nguyễn Ái Quốc gửi đến hội nghị Vecxây, yêu sách thứ 7 là pháp quyền. Sau này, yêu sách đó được Bác thể hiện thành lời ca: “Bảy xin Hiến pháp ban hành. Trăm điều phải có thần linh pháp quyền” (Yêu cầu ca, Báo Nhân dân, ngày 30/1/77).”

Theo TS Nguyễn Đình Lộc trong bài : “Hồ chí minh : Trăm điều phải có thần linh pháp quyền và việc xây dựng hệ thống pháp luật Việt Nam” :

“Cho đến nay, qua các tư­ liệu lịch sử có đ­ược, có thể nói, đây là lần đầu tiên trong văn học sử Việt Nam xuất hiện khái niệm “pháp quyền” và “pháp quyền” ở đây lại được nâng lên thành “thần linh” – một khái niệm linh thiêng, làm nổi bật ý nghĩa tính chất “pháp quyền”, nổi bật ý nghĩa, vai trò của pháp luật, của Hiến pháp trong đời sống xã hội.”

Như vậy từ “pháp quyền”, theo các học giả trên, là của ông Hồ.

Đặc biệt, TS Nguyễn Đình Lộc gán cho “pháp quyền” (trong bài vè của ông Hồ) nội hàm của “hiến pháp”. Có thật vậy hay không?

Muốn biết ta cần nghiên cứu về nội dung và hoàn cảnh ra đời của bài vè “Yêu cầu ca” (mà các học giả VN nói là của ông Hồ Chí Minh).

Bài vè lục bát tựa đề “Việt Nam yêu cầu ca”, thực ra là bản “phóng tác” của bản yêu sách 7 điểm viết bằng tiếng Pháp “Revendications du peuple Annamite – Yêu sách của nhân dân An Nam” (mà các sử gia VN cũng cho là của ông Hồ), viết năm 1919 nhân dịp Hội nghị các đại cường thắng trận Đệ Nhất thế chiến tổ chức tại Versaille. Gọi là “phóng tác” vì bài dịch này không phù hợp với ý nghĩa tiếng Pháp của văn bản. Bài vè có câu :

“Bảy xin Hiến pháp ban hành
Trăm điều phải có thần linh pháp quyền”

Nguyên văn yêu sách số 7, bản tiếng Pháp :

“7/ Remplacement du régime des décrets par les régimes des lois.” (Nguồn : Les décolonisations au XXe siècle: La fin des empires européens et japonais, Par Pierre Brocheux, Annexe 1.)

Tạm dịch ra tiếng Việt là : thay thế chế độ pháp lệnh bằng chế độ luật lệ.

So sánh lại ta thấy ý nghĩa tiếng Việt và tiếng Pháp của văn bản là không hoàn toàn chính xác. Trong bản tiếng Việt nói đến “hiến pháp” mà điều này không thấy trong bản chính tiếng Pháp.

Ý nghĩa của điều 7 (tiếng Việt) là gì ? “Xin” ở đây là “xin ai”, ai xin ? Hiến pháp này là hiến pháp nào ? Ai ban bố ?

Bản “yêu sách” gởi Hội nghị Versaille, nơi các cường quốc thắng trận đang hội họp. Dĩ nhiên là “xin” lãnh đạo các đại cường thắng trận, trong đó có Pháp quốc. Người xin dĩ nhiên là tác giả của Văn bản.

Hiến pháp này là hiến pháp nào ? VN lúc đó vẫn còn là “thuộc địa” của Pháp, được Pháp cai trị dưới “chế độ pháp lệnh” (của Bộ Thuộc địa và quan Toàn quyền), chứ không theo luật lệ (Hiến pháp) của mẫu quốc. Hiến pháp ở đây phải là hiến pháp của mẫu quốc.

Điều này sẽ rõ rệt nếu ta xét lại điều 2 của bản Yêu sách :

“2/ Réforme de la justice indochinoise par l’octroi aux Indigènes des mêmes garanties judiciaires qu’aux Européens, et la suppression complète et définitive des Tribunaux d’exception qui sont des instruments de terrorisation et d’oppression contre la partie la plus honnête du peuple Annamite.”

(Nguồn : Les décolonisations au XXe siècle: La fin des empires européens et japonais, Par Pierre Brocheux, Annexe 1.)

Tạm dịch : cải cách lại pháp lý Đông dương bằng cách ban bố cho người bản địa được bảo đảm về tư pháp (tài phán) như là người Châu u đồng thời bãi bỏ vĩnh viễn tất cả những loại Tòa án đặc biệt mà thực chất chỉ là những công cụ khủng bố và đàn áp thành phần những người An Nam lương thiện nhất.

Chữ “l’octroi” trong tiếng Pháp có nghĩa là “ban bố, ban phát”.

“Xin” để được “ban phát” : quyền được bình đẳng về tài phán như người Châu u.

“Bảy xin hiến pháp ban hành – trăm điều phải có thần linh pháp quyền” ở đây có nghĩa là xin hiến pháp của mẫu quốc ban hành những điều “luật” để bảo đảm “quyền” của người “bản địa”.

VN lúc đó chưa lấy lại “độc lập – souveraineté” thì không thể nói “hiến pháp” trong câu này là “hiến pháp” của nước VN được.

Như vậy từ “pháp quyền” mà ông Hồ sử dụng trong bài vè có ý nghĩa là “juridiction-jurisdiction”.

Tự điển Hán-Việt của Nguyễn Văn Khôn, từ “pháp quyền” được giải nghĩa là: “quyền của một nước được quyền dùng pháp luật nước mình xử một người nước ngoài ở trong lãnh thổ nước mình”. Các tự điển Đài loan, TQ hay các nước có cùng nguồn gốc vị tự… trước kia, hay hiện nay, đều dịch “pháp quyền” với ý tương tự.

Ý nghĩa “pháp quyền” của ông Hồ là như vậy. Các học giả VN dùng “pháp quyền” với ý nghĩa này để chuyển dịch khái niệm “rule of law” hay “état de droit” (nhà nước pháp quyền) rõ ràng là không ổn.