Cà phê thứ Bảy: NHỮNG ĐỊNH KIẾN CẦN TRA VẤN (Nói chuyện về cuốn sách của N. Berdyaev “Con người trong thế giới tinh thần”

Tác giả: Nhạc sĩ Dương Thụ- Giám đốc Cà phê thứ Bảy

h120Anh chị và các bạn thân mến!

vào hồi 14h30 chiều thứ bảy, ngày 19/11/2016

tại SALON VĂN HÓA quán CÀ PHÊ THỨ BẢY

tầng 1, số 3A Ngô Quyền, Hà Nội

sẽ diễn ra buổi CÀ PHÊ GẶP GỠ & ĐỐI THOẠI

“Cà phê” với dịch giả, GS NGUYỄN VĂN TRỌNG

Chủ đề: NHỮNG ĐỊNH KIẾN CẦN TRA VẤN

(Nói chuyện về cuốn sách của N. Berdyaev

“Con người trong thế giới tinh thần” (NXB Tri thức, 2015)

Chủ trì: GS  CHU HẢO

Rất mong các bạn đến tham dự.

Hân hạnh được đón tiếp 

 

LỜI DẪN 

Những định kiến cần tra vấn là một chủ đề lớn mà GS Nguyễn Văn Trọng và NNC Bùi Văn Nam Sơn đã  chia sẻ trong nhiều buổi tại Salon Văn hóa Cà Phê Thứ Bảy tại CPTB TPHCM. Đây là buổi đầu tiên của GS Nguyễn Văn Trong tại CPTB Hà Nội. Để các bạn có thể nắm trước được nội dung những buổi đó chúng tôi xin giới thiệu lời dẫn về chủ đề này của GS Nguyễn Văn Trọng.

 

NHỮNG ĐỊNH KIẾN CẦN TRA VẤN

Nói chuyện về cuốn sách của N. Berdyaev

“Con người trong thế giới tinh thần” (NXB Tri thức, 2015)

Nguyễn Văn Trọng 

Tác phẩm của N. Berdyaev không dễ đọc vì ông là người theo nhị nguyên luận: con người đồng thời thuộc về hai thế giới (thế giới tinh thần và thế giới tự nhiên). Ông thậm chí còn cho rằng thế giới tinh thần tiên khởi hơn thế giới tự nhiên. Điều này gây khó khăn cho những người theo nhất nguyên luận và chủ nghĩa duy vật khi đọc Berdyaev.

Trong buổi giao lưu hôm nay tôi muốn tập trung thảo luận một số những định kiến quan trọng của con người trong cuộc sống xã hội. Đó là các định kiến về chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa tập thể, đó là các định kiến về nhà nước, văn hóa và tôn giáo. Những khái niệm này có sự khác biệt đáng kể trong nhận thức giữa Berdyaev và những con người trung bình trong xã hội. Berdyaev không phải là triết gia duy nhất có cách hiểu khác về các khái niệm trên. Một thí dụ là định kiến về tôn giáo. Hamvas Béla đã viết như sau:”Các cuộc tấn công đều [thời kỳ Ánh Sáng] đều nhằm vào tôn giáo, cho dù mục tiêu không phải là tôn giáo mà nhằm vào sự lạm dụng quyền lực của giới giáo sĩ, sự hạn chế và các tham vọng thế lực của giới này.

Nhưng cho đến tận thời gian gần đây nhất, cả những kẻ tấn công và những kẻ bảo vệ đều ở trong một niềm tin: nói đến Kitô giáo là cần phải nói đến những giáo điều, các huyền thoại, các tổ chức giáo sĩ và đạo đức của nỗi sợ hãi mê tín.” ( Hamvas Béla, Minh triết và thiêng liêng, tập III, Nguyễn Hồng Nhung dịch, NXB Tri thức, 2016, tr.45-46). Hamvas Béla hiểu Kitô giáo trong ý nghĩa định hướng tinh thần của Phúc Âm là rao giảng tình thương yêu. Cách hiểu này tương đồng với N. Berdyaev và khác biệt với cách hiểu của đám đông trong xã hội.

Tôi nói về “tra vấn các định kiến” không hàm ý nhất thiết phải từ bỏ những định kiến cũ. Ở đây chỉ hàm ý “tra vấn” để rồi mỗi người có một lựa chọn cho riêng mình, trong đó bao gồm cả trường hợp giữ lại định kiến cũ. Tôi theo ý của triết lí Phật giáo: mỗi cá nhân tự tạo nghiệp cho mình bằng chuỗi các tự do lựa chọn mà anh ta thực hiện trong cuộc đời mình. Ngay cả khi con người đem quyền tự do lựa chọn của mình để đổi lấy bánh mì hay sự an toàn thì đó cũng vẫn là một lựa chọn của anh ta.

—————

TƯ LIỆU THAM KHẢO 

NHỮNG ĐỊNH KIẾN CẦN TRA VẤN

                                                                                           Nguyễn Văn Trọng

 

                                                        Phần 1

Chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa tập thể

1.Chủ nghĩa cá nhân

Từ điển tiếng Việt (Hà nội, 1992, tr. 185) định nghĩa từ ngữ chủ nghĩa cá nhân như sau:”Thế giới quan dựa trên cơ sở đem đối lập cá nhân riêng lẻ với xã hội, về đạo đức hướng theo chủ nghĩa vị kỉ“. Tra từ điển  Anh – Việt của tác giả Lê Khả Kế (NXB Thế giới, 2001, tr.798) thì từ Anh ngữ individualism được dịch là chủ nghĩa cá nhân. Thế nhưng theo Oxford Advanced Learner’s Dictionary (7th edition, p.791) thì từ ngữ này được định nghĩa như sau:” 1 the quality of being different from other people and doing things in your own way 2 the belief that individual people in society should have the right to make their own decisions, etc.,rather than be controlled by the government…” Như vậy nếu ta theo định nghĩa của Từ điển tiếng Việt thì từ tiếng Anh individualism không thể dịch là chủ nghĩa cá nhân được vì chúng có hàm nghĩa hoàn toàn khác nhau. Nhưng cũng có thể đặt vấn đề: liệu có nên định nghĩa chủ nghĩa cá nhân như Từ điển tiếng Việt hay không? Tôi không phải là chuyên gia ngôn ngữ học nên không dám lạm bàn về vấn đề này.

Tôi nêu chuyện này ra là vì muốn nhấn mạnh một vấn đề: văn hóa truyền thống của Việt Nam dường như chưa có ý thức về con người cá nhân như một con người cá biệt khác với những người khác, nhưng không nhất thiết là xấu xa, vị kỉ. Một người có cá tính mạnh mẽ khác biệt với số đông thường bị chỉ trích và kì thị. Nho giáo ở Việt Nam không thừa nhận con người cá nhân mà chỉ thừa nhận con người phận vị. Đạo đức cá nhân chỉ là phương tiện để thực hiện nhiệm vụ phò vua giúp nước. Chỉ có nhà nước phong kiến là có ý nghĩa, còn con người cá nhân không có ý nghĩa gì nếu không phục vụ cho nhà nước ấy, tức là con người không có ý nghĩa tự thân mà chỉ có ý nghĩa là phương tiện cho một cái gì đó khác. Tôi ngờ rằng nếu được nghe nói nhà nước vì con người chứ không phải ngược lại, các nho sĩ có thể sẽ không hiểu người ta nói gì.

Ý niệm về con người cá nhân ở trong văn hóa phương Tây có lẽ ẩn chứa trong kinh Phúc âm của Ki tô giáo và được I. Kant trình bày tường minh và nhất quán trong học thuyết của mình. Kant cho rằng con người đồng thời thuộc về hai thế giới (thế giới khả giác và thế giới khả niệm); con người là hữu thể tự trị, có khả năng tự nhận thức bản thân để lựa chọn làm một hữu thể thuộc về thế giới khả niệm, bảo vệ phẩm giá con người như cứu cánh tự thân chứ không là phương tiện cho một thứ gì khác ngoài chính con người. N. Berdyaev đã phát triển ý tưởng này của Kant trong tác phẩm mà chúng ta đang bàn tới. Ông cũng cho rằng con người đồng thời thuộc về hai thế giới: thế giới tự nhiên (thế giới khả giác của Kant) và thế giới tinh thần (thế giới khả niệm của Kant). Trong thế giới tự nhiên con người cá nhân có vẻ giống như bộ phận của xã hội (một khái niệm to lớn bao trùm hơn); nhưng trong thế giới tinh thần của con người thì xã hội là bộ phận ở bên trong thế giới tinh thần nội tâm của con người cá nhân. Xã hội có gắn bó con người cá nhân với nhau hay không tùy thuộc vào phẩm tính xã hội ở bên trong mỗi con người cá nhân có phát triển được hay không. Tình trạng nô lệ của con người trong xã hội phá hủy phẩm tính xã hội của con người và khiến cho xã hội không thể gắn kết con người với nhau. Người ta thường nhân danh xã hội để cưỡng bức con người cá nhân phải làm điều mà họ không muốn. Nhưng xã hội chỉ là một khái niệm chứ không phải là một thực thể hiện sinh để có thể tự phát biểu, chỉ có những con người thuộc giới quyền uy phát biểu nhân danh xã hội mà thôi. Nếu một người hay một nhóm người có mục đích nào đó và sử dụng người khác như phương tiện cho mục đích đó, thì hành động ấy là phủ nhận giá trị tối thượng của con người.

Berdyaev phát triển triết học về con người trong thế giới tinh thần. Ông gọi triết thuyết của mình là cá biệt luận (personalism) để phân biệt với chủ nghĩa cá nhân (individualism) vốn gây nhiều hiểu lầm. Ông viết:” Cá biệt luận dịch chuyển trọng tâm bản diện cá nhân từ giá trị của những cái chung khách quan – xã hội, dân tộc, nhà nước, tập thể – sang giá trị của bản diện cá nhân. Tuy nhiên, cá biệt luận hiểu bản diện cá nhân trong đối lập sâu sắc với thói vị kỉ.

2.Chủ nghĩa tập thể. 

Những người thuộc thế hệ của tôi thường được thuyết giảng về chủ nghĩa tập thể như một thứ đạo đức cao cả đối lập với chủ nghĩa cá nhân xấu xa. Dưới đây là những trích đoạn từ cuốn sách kể trên của N. Berdyaev nói về định kiến này.

Con người ở trong tình trạng yếu ớt và bị bỏ rơi của mình, lẽ tự nhiên sẽ tìm kiếm cứu rỗi ở trong các tập thể. Con người chấp thuận từ bỏ bản diện cá nhân của mình để cho cuộc sống của anh ta được đảm bảo nhiều hơn, anh ta tìm kiếm tình cảnh chật chội trong tập thể con người để cho đỡ cảm thấy sợ hãi hơn…

Con người thuộc về những nhóm xã hội khác nhau – gia đình, đẳng cấp và giai cấp, nghề nghiệp, dân tộc, nhà nước v…v…Trong khi khách thể hóa những nhóm người ấy, vốn chỉ có mối quan hệ chức năng đối với con người, con người tự hình dung họ thành những tập thể mà anh ta cảm thấy bản thân mình là một bộ phận phụ thuộc ở trong đó và anh ta hòa tan vào trong đó. Tuy nhiên thế kỷ của chủ nghĩa tập thể phải được gọi là thời kỳ, khi mà những nhóm xã hội phân tầng và mang tính bộ phận được khái quát hóa và phổ quát hóa. Tựa hồ như hình thành nên một tập thể thống nhất, tập trung hóa, như là một hiện thực và giá trị tối thượng. Khi đó mới bắt đầu có cám dỗ thực sự của chủ nghĩa tập thể. Tập thể bắt đầu đóng vai trò của giáo hội với một khác biệt, ấy là giáo hội dẫu sao cũng còn thừa nhận giá trị của bản diện cá nhân và hiện hữu của lương tâm cá nhân, còn chủ nghĩa tập thể thì lại đòi hỏi ngoại hiện hóa lương tâm thật triệt để, chuyển nó sang các cơ quan của tập thể…(NVT nhấn mạnh)

Bất cứ tổ chức xã hội nào cũng đòi hỏi một kỷ luật nhất định, thế nhưng khi kỷ luật đòi hỏi từ bỏ ý thức và lương tâm cá nhân thì nó biến thành nền chuyên chế của tập thể. Giáo hội, nhà nước, quốc gia, giai cấp, đảng, đều có thể biến thành nền chuyên chế của tập thể. Tuy nhiên, tập thể luôn luôn sẵn lòng giúp cho bản diện cá nhân tăng cường năng lượng của mình trong cuộc đấu tranh. Một bản diện cá nhân đơn độc thật khó có thể đấu tranh cho cuộc sống. Về thực chất, chủ nghĩa tập thể sinh ra do nhu cầu và tình trạng bất lực của con người. Một trạng thái chuẩn mực hơn, ít đau khổ và bất lực hơn, sẽ dẫn đến cá thể hóa.

Cái [mang tính] xã hội bao giờ cũng nằm ở bên trong bản diện cá nhân. Cám dỗ và tình trạng nô lệ của chủ nghĩa tập thể có nghĩa là cái xã hội bị ném ra bên ngoài, và con người cứ tưởng rằng anh ta là bộ phận của cái xã hội bị ném ra bên ngoài ấy. Thí dụ như niềm kiêu hãnh dân tộc hay giai cấp là niềm kiêu hãnh cá nhân, thế nhưng con người lại cứ tưởng niềm kiêu hãnh ấy là phẩm hạnh. Đây là điều trá ngụy vĩ đại nhất chất đầy lên cuộc sống con người. Thói vị kỷ dân tộc và giai cấp cũng là thói vị kỷ cá nhân. Chủ nghĩa dân tộc đầy thù hận là tội lỗi cá nhân. Những tội ác mà con người thực hiện nhân danh các tập thể, trong khi đồng nhất bản thân mình với những tập thể ấy, về thực chất là những tội ác cá nhân. Đó là những tội ác của kẻ nô lệ-sùng bái ngẫu tượng…

Chủ nghĩa tập thể bao giờ cũng là tính cuồng si với ý tưởng trá ngụy của thống nhất trừu tượng và chủ nghĩa toàn trị. Thống nhất như thế là tình trạng nô lệ của con người. Giải phóng con người đòi hỏi không phải thống nhất, mà đòi hỏi hợp tác và tình yêu thương của những phần tử thuộc nhiều loại khác nhau…” (NVT nhấn mạnh)

Trải nghiệm sống của tôi cho thấy chủ nghĩa tập thể dẫn đến nền chuyên chế của đám đông. Trong tác phẩm Bàn về tự do J.S. Mill đã chỉ ra nền chuyên chế của số đông là nền chuyên chế kinh khủng hơn so với nhiều loại đàn áp chính trị khác. Ông nhận xét:”Nó cho phép có ít hơn các biện pháp trốn tránh, xuyên thấu sâu hơn vào những chi tiết của đời sống và bắt làm nô lệ ngay cả bản thân linh hồn, mặc dù thường không dùng những hình thức cực đoan. Vì vậy, việc bảo hộ chống lại chuyên chế của quan cai trị là không đủ, mà ở đây cần phải bảo hộ chống lại cả chuyên chế của ý kiến và cảm xúc đang thịnh hành, chống lại xu thế của xã hội áp đặt những ý tưởng và tập quán của riêng nó thành quy tắc cư xử cho những người bất đồng với nó bằng những phương tiện ngoài khuôn khổ các trừng phạt dân sự…

Phần 2

Nhà nước, văn hóa và tôn giáo 

  1. Nhà nước. 

Trong lịch sử, mọi dân tộc đều trải qua hình thức xã hội có tổ chức với bộ máy nhà nước thể hiện quyền lực chính trị đối với mỗi người dân. Văn hóa tinh thần của người Việt chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo vốn xem nghĩa vụ quan trọng nhất của con người là phò vua giúp nước. Việc “tu thân” cũng chỉ là khởi đầu của chuỗi nghĩa vụ “tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Khái niệm con người cá nhân hoàn toàn không có.

Khi tiếp xúc với văn hóa phương tây khái niệm con người cá nhân dường như chỉ có ảnh hưởng sâu sắc đối với văn học và nghệ thuật. Biến đổi sâu sắc nhất trong nhận thức chính trị của những tri thức mới là bác bỏ mô hình nhà nước quân chủ mà hướng tới một nhà nước dân chủ. Thế nhưng nhà nước dân chủ ấy cụ thể phải xây dựng như thế nào thì vẫn còn khá mơ hồ. Đầu thế kỷ XX phần nhiều vẫn chỉ dừng lại ở khẩu hiệu “dân vi quý” của thầy Mạnh tử, đồng nhất khẩu hiệu ấy với nền dân chủ cần xây dựng. Sức hấp dẫn của nền dân chủ phương tây dường như không phải ở nền tự do dân sự tôn trọng con người cá nhân, mà ở sự hùng mạnh của nền kinh tế công nghiệp sản sinh ra các tàu to súng lớn – sức mạnh đáng thèm muốn để phục vụ cho ý chí vươn tới hùng mạnh của nhà nước. Đa số người Việt có học đều giữ định kiến “dấn thân” để phục vụ cho sự hùng mạnh của nhà nước dân tộc. Dưới đây là ý kiến của triết gia Nga N. Berdyaev về định kiến này với các trích đoạn lấy từ tác phẩm Con người trong thế giới tinh thần (NXB Tri thức, 2015).

Cám dỗ vĩ đại nhất của lịch sử con người là cám dỗ vương quốc, trong cám dỗ ấy ẩn chứa sức mạnh nô dịch lớn nhất. Cám dỗ vương quốc có những hình thức đa dạng nhất trong lịch sử, nó biến đổi và gây lầm lẫn cho người ta… Cần phân biệt giữa vương quốc, đế chế và nhà nước. Nhà nước vẫn còn mang đặc tính khu biệt, nó vẫn còn ý thức được những giới hạn của mình, và trong bất kỳ cuộc sống cùng chung nào của con người cũng có những yếu tố và những chức năng của nhà nước. Thế nhưng trong nhà nước chứa đựng mầm mống của ý chí vươn tới hùng mạnh, trong nó đã có nọc độc đế quốc chủ nghĩa…

 Ý thức đạo đức cá nhân không cho phép con người vươn tới hùng mạnh, vươn tới vinh quang, vươn tới ưu thế trước những người khác, vươn tới sự vĩ đại đầy kiêu hãnh. Thế nhưng mọi thứ như vậy được cho phép, được biện minh và thậm chí còn được khuyên bảo nên làm, khi chuyển dịch sang nhà nước và dân tộc. Không một ai đã có lúc nào lại có thể giải thích trôi chảy được và biện minh được cho việc, tại sao những khuyết tật và tội lỗi hiển nhiên đối với đạo đức cá nhân – thói kiêu hãnh, tự đề cao mình, vị kỷ, tư lợi, lòng thù hận, tính khát máu và thích bạo lực, dối trá và xảo quyệt – lại hóa ra là điều thiện và tính anh dũng đối với nhà nước và các dân tộc. Đây là dối trá to lớn nhất của lịch sử thế giới…

 Quyền lực nhà nước là không thể tránh khỏi trong trạng thái nhất định của người ta, trong tính cách nhất định của hiện hữu của họ. Đó là trạng thái sa đọa của họ. Trong khi đó người ta đóng góp biết bao bản năng sáng tạo của mình vào việc xây dựng nhà nước. Người ta không chỉ cần phải có nhà nước, không sao thiếu được các dịch vụ của nó, mà còn bị nhà nước cám dỗ, chinh phục, người ta gắn nhà nước với giấc mộng về vương quốc. Cái ác chủ yếu, nguồn gốc tình trạng nô lệ của con người nằm trong điều này.

 Ý tưởng nhà nước toàn trị hoàn toàn chẳng hề mới mẻ, nó chỉ bộc lộ ra một cách nhất quán và cực đoan cái khuynh hướng vĩnh hằng của nhà nước, cái ý chí vĩnh hằng vươn tới hùng mạnh, cái việc nô dịch vĩnh hằng con người. Quyền lực rất thường hay tạo ra cái ác và phục vụ cho cái ác. Và những người thuộc giới quyền lực rất thường hay là tập họp chọn lọc của những kẻ tồi tệ nhất, chứ không phải những người tốt nhất.

 Những kẻ giữ đặc quyền, các giai cấp thống trị, thường được xem là những đại diện cho lợi ích và thống nhất của nhà nước. Thế nhưng Nhà nước hiện hữu vì con người, chứ không phải con người hiện hữu vì nhà nước. Chính quyền, chính phủ chỉ là tôi tớ, chỉ là người bảo vệ và đảm bảo các quyền con người, chứ không có gì hơn nữa. Chỉ có những nhà nước lấy biểu trưng là giá trị con người, chứ không phải tính vĩ đại của nhà nước, thì mới khả dĩ chấp nhận được…

 Đời sống chính trị bị méo mó nhiều nhất bởi nỗi sợ hãi kẻ thù và sợ hãi cái ác. Nhà nước thì lúc nào cũng bận rộn với cuộc đấu tranh chống kẻ thù, kẻ thù bên trong và bên ngoài. Chính quyền nhà nước bị méo mó bởi nỗi sợ hãi, thế nhưng không những nó gây ra nỗi sợ hãi, mà cả chính nó cũng cảm thấy sợ hãi. Không có ai đáng sợ hơn và nguy hiểm hơn là một người bị ám ảnh bởi nỗi sợ hãi, và đặc biệt là chính quyền nhà nước bị ám ảnh bởi nỗi sợ hãi thì không có gì đáng sợ hơn. Chính kẻ bị ám ảnh bởi nỗi sợ hãi thường thực hiện những bạo lực và tàn nhẫn to lớn nhất. Bạo chúa bao giờ cũng bị ám ảnh bởi nỗi sợ hãi. Khởi nguyên ma quỷ ở trong nhà nước không chỉ gắn liền với ý chí vươn tới hùng mạnh, mà còn gắn với nỗi sợ hãi nữa. Tự do là chiến thắng trước nỗi sợ hãi. Những người tự do tự mình không sợ hãi và không gây ra sợ hãi.

Trong tình trạng của loài người hiện nay hình thức nhà nước còn là cần thiết để duy trì an sinh cho dân chúng, những người theo chủ nghĩa vô chính phủ phủ nhận hình thức nhà nước nhưng lại không có câu trả lời thỏa đáng cho vấn đề này. Mặc dù nhận thức “nhà nước hiện hữu vì con người chứ không phải ngược lại” là nhận thức được thừa nhận ở các nước văn minh, song trên thực tế sự lạm quyền của các quan chức nhà nước vẫn còn là hiện tượng phổ biến.

  1. Văn hóa 

Nhà nước và bộ máy quan liêu của nó không đủ để duy trì cuộc sống bình thường của con người vốn mang tính xã hội. Dân chúng, ngoài pháp luật của nhà nước, còn cần có một bộ quy chuẩn tinh thần xác định mối quan hệ xã hội giữa con người với nhau. Đó là văn hóa. Trong chiều dài lịch sử mỗi dân tộc đều hình thành một nền văn hóa của riêng mình dựa trên những biến cố lịch sử đã trải qua và dựa trên những sáng tạo của các thiên tài văn hóa.

Trong bàn luận về xã hội hiện nay thường gặp khuynh hướng đề cao giá trị của văn hóa truyền thống. Berdyaev đã có những bàn luận về vấn đề này trong cuốn sách nêu trên. Dưới đây là những trích đoạn quan trọng.

Hiện hữu xung đột vĩnh hằng giữa các giá trị văn hóa và các giá trị nhà nước và xã hội. Về thực chất nhà nước và xã hội luôn luôn cố tiến tới tính toàn trị, đưa ra những đơn đặt hàng cho các nhà sáng tạo văn hóa và đòi hỏi họ phục dịch. Các nhà sáng tạo văn hóa bao giờ cũng phải rất khó khăn bảo vệ tự do của mình, nhưng sẽ dễ dàng cho họ hơn nếu xã hội ít tính đồng phục hơn, nếu xã hội được phân tầng nhiều hơn. Những giá trị bậc thấp hơn, thí dụ như nhà nước, bao giờ cũng cố bắt các giá trị cao hơn, thí dụ như những giá trị đời sống tinh thần, tri thức, nghệ thuật, phải phục tùng và làm nô lệ cho chúng. M. Sheler đã thử thiết lập xếp bậc các giá trị: các giá trị cao thượng đứng cao hơn các giá trị vui thú, các giá trị tinh thần đứng cao hơn các giá trị thiết yếu, các giá trị thiêng liêng đứng cao hơn các giá trị tinh thần. Thế nhưng hoàn toàn hiển nhiên là những giá trị thiêng liêng và những giá trị tinh thần có ít sức mạnh hơn nhiều so với những giá trị vui thú hay những giá trị thiết yếu, là những giá trị rất chuyên chế.

Berdyaev khẳng định tiếp:” Văn hóa dựa trên nguyên tắc quý phái, trên nguyên tắc lọc lựa phẩm tính. Sáng tạo văn hóa trong mọi lĩnh vực đều cố vươn tới hoàn hảo, cố đạt được phẩm tính cao nhất. Trong nhận thức cũng thế, trong nghệ thuật cũng thế, trong việc rèn luyện tính cao thượng của tâm hồn và trong vun đắp những cảm xúc nhân bản cũng như thế. Chân lý, vẻ đẹp, sự thật, tình yêu đều không phụ thuộc vào số lượng, đó là những phẩm tính. Nguyên tắc quý phái của lọc lựa tạo nên giới tinh hoa văn hóa, giới quý tộc tinh thần. Thế nhưng giới tinh hoa văn hóa không thể cứ khép kín trong bản thân mình, cô lập, tự khẳng định bản thân dưới nỗi sợ hãi bị xa lìa khỏi ngọn nguồn của đời sống, cạn kiệt sức sáng tạo, suy đồi và chết mòn. Mọi tính quý tộc phe nhóm đều tất yếu bị suy thoái và cạn kiệt. Nếu sáng tạo các giá trị văn hóa không thể nào ngay lập tức truyền bá sang đám đông loài người chưa có phẩm tính, thì cũng không thể nào lại không diễn ra quá trình dân chủ hóa văn hóa. Chân lý mang tính quý phái theo ý nghĩa nó là thành tựu của phẩm tính và của tính hoàn hảo trong nhận thức, độc lập với số lượng, độc lập với ý kiến và đòi hỏi của số đông người. Nhưng nó hoàn toàn không có nghĩa chân lý hiện hữu chỉ cho một thiểu số chọn lọc, cho một phe nhóm quý tộc, chân lý hiện hữu cho toàn thể loài người, và tất cả mọi người đều có quyền tiếp cận với nó. Không có gì đáng ghê tởm hơn thói kiêu ngạo và thói khinh người của giới tinh hoa khép kín. Những thiên tài vĩ đại không bao giờ như thế cả. Thậm chí có thể nói được rằng, việc hình thành đẳng cấp phe nhóm của những người tinh tế và phức tạp về văn hóa, đánh mất đi mối gắn kết với chiều rộng và chiều sâu của quá trình đời sống, chính là hình thành trá ngụy... Tính quý tộc tinh thần chân chính gắn với ý thức phục vụ, chứ không phải ý thức tính đặc quyền của mình. Tính quý tộc chân chính không có gì khác hơn là đạt được tự do tinh thần, tính độc lập với thế giới xung quanh, độc lập với số lượng loài người, dù số lượng ấy hiện ra ở dưới hình thức nào đi nữa, là lắng nghe tiếng nói nội tâm, tiếng nói của thượng đế và tiếng nói của lương tâm. Tính quý tộc là hiện tượng của bản diện cá nhân, không chấp thuận hòa lẫn, không chấp thuận thích nghi, không chấp thuận nô lệ cho thế giới vô phẩm tính. Thế nhưng trong thế giới con người, không phải tính quý tộc này là phổ biến, cái phổ biến lại chính là tính quý tộc biệt lập, khép kín, kiêu ngạo, khinh người, thái độ cao ngạo đối với những người đứng thấp hơn, tức là tính quý tộc trá ngụy, tính quý tộc đẳng cấp phe nhóm sinh ra bởi quá trình xã hội.”

Berdyaev nhận xét về tình trạng nô lệ của con người trước văn hóa như sau:” Con người rơi vào tình trạng nô lệ cho những giá trị văn hóa lý tưởng. Con người biến khoa học, nghệ thuật, biến tất cả những phẩm tính của văn hóa, thành những thần tượng, và điều này khiến cho con người trở thành nô lệ. Sùng bái khoa học, sùng bái mỹ học, chuộng cái hào nhoáng văn hóa – biết bao nhiêu là những hình thức nô lệ của con người. Thời xưa, đứng đằng sau những giá trị lý tưởng là các nhà tiên tri và các thiên tài, là cảm hứng sáng tạo và rực cháy. Thế nhưng khi các tượng đài được dựng lên cho các nhà tiên tri và các thiên tài, và họ tên của họ được đặt tên cho các đường phố, thì văn hóa nguội lạnh thường thường bậc trung được hình thành, cái văn hóa ấy không chịu nổi việc chấp nhận lời tiên tri mới và thiên tài mới… Điều chủ yếu là con người trong quan hệ với văn hóa và trong quan hệ với kỹ thuật phải là ông chủ, chứ không được là nô lệ. Khi nguyên lý sức mạnh được tuyên bố và sức mạnh được đặt cao hơn sự thật và cao hơn giá trị, thì điều này có nghĩa là cáo chung và cái chết của văn minh.

  1. Tôn giáo.

Tôn giáo vốn được coi là bộ phận đặc thù của văn hóa. Các phong trào tôn giáo trong lịch sử nhân loại chứa đựng những biến cố phức tạp và đầy mâu thuẫn. Nhiều nhà nghiên cứu tôn giáo thường chú ý đến các hoạt động của giáo hội trong các thời kỳ lịch sử khác nhau. Về phần mình tôi chỉ quan tâm đến tôn giáo về phương diện văn hóa tinh thần – những gì dẫn đưa các thành viên của cộng đồng tôn giáo vào một định hướng tinh thần nhất định. Tôi cho rằng xét về phương diện này thì cuộc sống tôn giáo là cuộc sống cá nhân riêng tư trong thâm nhập vào chiều sâu của nó. Con người có thể là thành viên của một giáo hội nào đó theo truyền thống gia đình hay vì những lý do nào đó khác, song việc lựa chọn đức tin tôn giáo đích thực mang tính cá biệt riêng tư.

Những tín đồ Kitô giáo hay Phật giáo chân chính đều tin rằng ngoài thế giới trần gian mình đang sống còn có một thế giới khác mà con người thông qua các lựa chọn hành vi thiện, có thể siêu việt hóa bản thân mình để tới được thế giới ấy. Cả hai tôn giáo đều khẳng định phẩm giá của con người cá nhân trong tư cách là con người, không phụ thuộc vào địa vị xã hội hay của cải của người đó. Cả hai tôn giáo đều lên án bạo lực và lòng thù hận. Cả hai tôn giáo đều khẳng định trách nhiệm cá nhân của con người trong việc lựa chọn lối sống Thiện hay Ác và khẳng định tính nhân quả của những lựa chọn này.

Những người vô thần là những người tin rằng chỉ có thế giới trần gian là hiện thực, tham lam vị kỷ là bản tính cố hữu của con người. Họ không tin vào tính huyền bí của cuộc sống và cho rằng khoa học rồi sẽ giải đáp được mọi chuyện.

Người Việt trong văn hóa truyền thống của mình có tôn giáo hay không? Chúng ta được biết Phật giáo đã vào nước ta từ rất sớm và hai triều đại Lý Trần rất sùng đạo Phật. Nhưng chẳng có ghi chép nào về cuộc sống sinh hoạt của dân chúng thời đó để biết được các giá trị tinh thần của Phật giáo đã có ảnh hưởng ra sao. Một số bài thơ thời Lý Trần là quá ít để hiểu được chuyện này. Nhưng kể từ thời Hậu Lê Phật giáo đã dần dần mất hết ảnh hưởng tích cực và nhà nghiên cứu Phan Kế Bính năm 1915 đã phải ngậm ngùi nhận xét rằng:” Hiện bây giờ Phật giáo ở nước ta cũng đã suy. Tuy lưu truyền đã lâu, làng nào cũng có chùa thờ Phật, dân gian vẫn còn cúng bái sùng phụng, nhưng chẳng qua là bọn ngu phu ngu phụ theo thói quen mà cúng vái chứ kỳ thật không mấy người là mộ đạo.

Hiện nay không thể nói về tình trạng vô tín ngưỡng trong xã hội Việt Nam đương đại: mở TV ra là thấy các lễ hội thờ cúng khói hương nghi ngút, các đoàn người mặc lễ phục khăn đóng áo dài màu sắc rực rỡ; sách nói về thế giới tâm linh với các phép lạ được bày bán khắp nơi; vô số các ngôi chùa hoành tráng được xây dựng mới… Tuy nhiên, thế giới tâm linh của người Việt trung bình hoàn toàn khác hẳn với thế giới tinh thần của các tôn giáo lớn như Kitô giáo hay Phật giáo. Không như các tín đồ Kitô giáo bước vào Nhà thờ với lòng thành kính hướng tới Thượng đế cao cả để sám hối về những sa đọa của mình và mong được cứu chuộc; không như các tín đồ Phật giáo ngồi thiền để dẹp đi những tạp niệm và dục vọng, hướng tới giải thoát viên mãn; những người Việt trung bình đi tới các miếu mạo đền chùa với tiền bạc và lễ vật giống như đi đến nhà các quan chức để lo chạy chọt. Điều thú vị là những mục đích mà họ lo chạy chọt ở cả hai thế giới, đều cùng là một thứ: ấy là những khao khát tư dục của con người. Khi những tín đồ chân chính của các tôn giáo lớn hướng tới biểu tượng của sự cao cả, họ tạo cho mình niềm hứng khởi để thực hiện những nghĩa vụ đạo đức nhân bản như những “mệnh lệnh nhất quyết” trong ý nghĩa của Kant, được thanh lọc khỏi mọi ham muốn tư dục. Còn những người ở trong tình trạng nô lệ kép (nô lệ ở cả hai thế giới) cho các tư dục của mình thì khó mà vun đắp được những phẩm tính đạo đức nhân bản như lòng thương yêu đồng loại hay tôn trọng phẩm giá của tha nhân.

Một vài suy nghĩ

Nhận thức về nhà nước, văn hóa và tôn giáo có ý nghĩa quan trọng đối với việc xây dựng một hệ thống giá trị nhân bản cho mỗi cá nhân. Thông thường ứng xử của con người trong xã hội dựa trên hai loại phán xét cá nhân: một là phán xét sự kiện dựa trên dự báo về phản ứng của người đời để tiên đoán hệ quả xã hội cho hành vi của mình, hai là phán xét giá trị dựa trên một hệ thống cá biệt ưu tiên cho những giá trị tinh thần nhất định. Hai loại phán xét như vậy hình thành thông qua nhận thức cá nhân về những trải nghiệm của mình trong cuộc sống.

Con người dù sống ở xã hội văn minh hay lạc hậu sớm muộn gì cũng phải đối diện với câu hỏi nhân sinh: ý nghĩa cuộc sống của tôi là gì? Theo Berdyaev con người thường bị những cám dỗ giá trị Nhà nước và giá trị Văn hóa mê hoặc mà xa rời các giá trị đạo đức nhân bản. Cám dỗ vươn tới hùng mạnh của Nhà nước dân tộc luôn dẫn tới bạo lực và chiến tranh, sùng bái khoa học và nghệ thuật cũng đòi hỏi hiến tế con người. Lẽ dĩ nhiên Berdyaev không hề phủ nhận những nghĩa vụ công dân đối với nhà nước mà con người cá nhân cần phải thực hiện, ông cũng rất đề cao giá trị văn hóa ở trong tính sáng tạo và xếp nó cao hơn giá trị nhà nước. Trên thực tế mỗi cá nhân đều hình thành một hệ giá trị tinh thần. Hệ giá trị ấy không bất biến mà luôn biến đổi tùy thuộc vào việc tra vấn nội tâm của con người đối với những trải nghiệm sống của anh ta hay chị ta. Kitô giáo và Phật giáo đều khẳng định tính lưỡng phân của con người: con người vừa có tính thiện (có sự tương đồng với Thượng đế của Kitô giáo hay Phật tính từ bi của Phật giáo) vừa có tính Ác (do những cám dỗ vị kỷ của tư dục). Con người tự quyết định bản tính của mình thông qua tự do lựa chọn. Hệ quả là: sự đa dạng là bản chất của loài người chứ không phải là điều kiện nhất thời. Điều này khác với các lý thuyết xã hội học muốn xác định một bản chất chung của con người.

Kitô giáo và Phật giáo là những tôn giáo lớn đã có lịch sử hàng ngàn năm. Mọi người đều thừa nhận Kitô giáo là do Đức Jesus sáng lập, còn Phật Thích Ca là tổ sư của Phật giáo. Thế nhưng mấy nghìn năm lịch sử đã chứng kiến biết bao nhiêu giáo phái khác nhau của hai tôn giáo này. Theo hiểu biết của tôi, vấn đề là ngôn ngữ của con người không có khả năng diễn đạt chính xác những gì thuộc thế giới tinh thần. Hệ quả là một số vĩ nhân nói ra một số điều, những người nghe được lại hiểu thành những ý nghĩa khác nhau. Do đó tôi cho rằng trong chiều sâu của nó tôn giáo là cuộc sống cá nhân riêng tư. Những người tự nhận là tín đồ Kitô giáo hay Phật giáo thực ra đều có một Kitô giáo hay một Phật giáo mang tính cá biệt của riêng họ. Những giá trị “thiết yếu” thường được số đông thừa nhận, nhưng theo M. Sheler đó là những giá trị đứng ở thang bậc thấp hơn các giá trị tinh thần. Các giá trị tinh thần vì vậy chỉ có ở một thiểu số tinh hoa văn hóa. Vai trò của thiểu số tinh hoa văn hóa là cực kỳ quan trọng trong việc định hướng tinh thần cho các thành viên xã hội. Thế nhưng trong con mắt của con người trung bình họ là những người không có “sức mạnh”. Berdyaev nhận xét:”Cảnh sát và cai đội, chủ ngân hàng và con buôn luôn mạnh hơn là thi sĩ và triết gia, hơn là nhà tiên tri và thánh nhân…Con trai Thượng đế bị hành hình. Socrates bị đầu độc. Những người khởi xướng và những người sáng tạo tư duy mới, đời sống mới, bị truy bức và đàn áp và không hiếm khi bị xử tử. Con người trung bình của tính thường nhật xã hội chiến thắng…

Thời trung đại của châu Âu được xem là thời đại của Kitô giáo. Kitô giáo ở châu Âu đương đại có vẻ như không còn có địa vị như thời trung đại. Thế nhưng liệu có phải trong chiều sâu tinh thần của mỗi người phương Tây, Kitô giáo không còn có ảnh hưởng gì như vẻ bề ngoài của các giáo hội ở đó hiện nay?