“Tôi yêu tiếng nước tôi….” (*)

Tác giả: Đào Dục Tú

.Trên hết là tình yêu với  tiếng  quê hương mà Lưu Quang Vũ đã cất lên lời trong thơ “ ôi tiếng Việt ngàn đời tôi mắc nợ-quên nỗi mình quên áo mặc cơm ăn”. Hay như người nhạc sĩ lão thành tài hoa Phạm Duy đã cất lên lời tình ca “tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời. . .”

————–

anh-co  Từ đầu thập kỷ tám mươi thế kỷ trước,người viết bài này được điều động, “thuyên chuyển cán bộ”  về chương trình phát thanh “ dành cho đồng bào VN ở xa tổ quốc”  của Đài TNVN. Trong suốt mấy thập niên làm công việc của nghề báo nói  ở chương trình phát thanh dành cho một đối tượng thính giả “xa mặt mà  không cách lòng” vô cùng đặc biệt là trên dưới năm triệu người Việt định cư sinh sống ở khắp các châu lục, chương trình dần dần hình thành những  “chuyên mục trong tuần” sao cho phù hợp với yêu cầu của  người nghe. Riêng thứ ba của tuần lễ, đều đặn sau phần thời sự chính trị là giới thiệu văn  học VN trong đó có chuyên mục “Tiếng Quê Hương” nhằm  diễn giải, minh chứng vẻ trong sáng của tiếng mẹ đẻ trong rừng ngôn ngữ nhân loại và những vấn đề truyền dậy ngôn ngữ cho thế hệ  kiều bào thứ hai thứ ba thứ tư  “xa tổ quốc”                                                            


  Ngôn ngữ Việt với thính giả Việt Kiều trước hết là đáp ứng thế hệ đi trước,những người vì thời cuộc đưa đẩy, ví như hàng vạn “anh Khóa” bị đẩy sang Pháp làm lính thợ,lính chiến “đánh Đức” trong chiến tranh  thế giới thứ nhất sau đó ở lại  định cư ; ví như những số phận bất hạnh tha hương trôi nổi ví đối nghèo phải bỏ xứ ra đi tìm kế sinh nhai làm con sen con ở cho chủ Pháp. . . Cũng có một số không nhiều thuộc tầng lớp trên được gia đình cho đi du học vân vân. . . .

Họ định cư sinh sống lập thân  lập nghiệp ở các nước từ trước và sau cách mạng  mùa thu năm 1945, đặc biệt ở Pháp ; trước và sau khúc quanh lịch sử giải phóng hoàn toàn miền Nam năm 1975, đặc biệt ở Mỹ ,ở Úc. Họ thuộc nhiều thành phần xã hội nhưng đều là trụ cột gia đình, trụ cột trong cả việc giữ gìn bản sắc Việt cho con cháu,trong đó có tiếng mẹ đẻ. Điều đáng lưu ý là hầu hết những người thuộc diện trung niên,cao niên này hầu như vẫn giữ nguyên phong cách sử dụng tiếng mẹ đẻ  ở thời họ xa xứ. Người viết đã gặp các cụ bà cụ ông trong vài dịp đón kiều bào về quê hương vui xuân mới “ăn nói” y trang các cụ ông cụ bà trong nước ngày  xưa,cách dùng từ cũng như ngữ điệu.

Có cảm giác sống ở xứ người văn minh phát triển đã lâu mà thế hệ thứ nhất vẫn giữ nguyên vẹn tiếng mẹ đẻ một thời quá vãng. Với “nhánh thính giả” trung niên cao niên  này,tiếng Việt cụ thể là ngôn ngữ thơ Kiều,thơ  Nguyễn Khuyến,Tú Xương, thơ tiền chiến,ca dao dân ca,tục ngữ ,ngạn ngữ . . . gần gụi với họ như “cơm ăn nước uống”, như một mảnh tình quê , như “mảnh hồn làng” Việt mà ca từ Tình Ca của nhạc sĩ lão thành Phạm Duy đã viết “ tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời-mẹ hiền ru những câu xa vời. . . ,” Người biên tập dẫn dụ,giải trình phần tinh túy nhất của  “tiếng nước tôi” đỉnh cao phát triển ở thế kỷ mười tám là thơ Kiều “tuyệt diệu từ”,là ca dao dân ca. Không còn nhớ bao nhiêu câu Kiều,bao nhiêu câu thơ dân gian,bao nhiêu câu thành ngữ, tục ngữ đã được giới thiệu trên sóng phát thanh.  “ Vầng trăng ai xẻ làm đôi-Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường” “Trời còn để đó hôm nay-Tan sương đầu ngõ vén mây giữa trời “ ( Kiều) . . .

Có những câu ca dao ba miền tuyệt vời  như thơ tượng trưng  “Ai đi đằng ấy xa xa-Để em ôm bóng trăng tà năm canh”. Ca dao Nam Bộ không uyển chuyển mượt mà song ngôn ngữ thơ chân thật giản dị biểu cảm một cách khác “khăn thương nhớ ai khăn rơi xuống đất-mắt thương nhớ ai mà mắt không khô” . . . Đặc biệt thơ  viết về người vợ, thơ“khóc vợ” chan chứa tình nghĩa của hai cụ Tú Xương,Nguyễn Khuyến sử dụng rất nhiều câu chữ thuần nôm na quen thuộc “ Quang năm buốn bán ở mom sông-Nuôi đủ năm con với một chồng- Lặn lội thân cò khi quãng vắng-Eo sèo mặt nước buổi đò đông. . .”  .

Ngoài phần giới thiệu tinh hoa tiếng Việt thời cổ cận đại,người biên tập cũng ý thức được rằng ngôn ngữ thơ Việt đã tiến một bước dái về phía hiện đại sau cuộc cách tân văn học  giai đoạn 1930-1945 ghi dấu ấn nhóm văn chương Tự Lực Văn Đoàn. Thơ Xuân Diệu,Thế Lữ, Hàn Mặc Tử,Bích Khê. . . như là kết tinh sự giao thoa thơ đông-tây kim cổ, đẩy ngôn ngữ Việt tiến xa về phía trước song hành cùng sự phát triển của lịch sử văn hóa dân tộc. Có những câu thơ hầu như không biết đến thời gian trên dưới bảy mươi năm, sống mãi,xanh mãi với người đời. “ Ô hay buồn vương cây ngô đồng-Vàng rơi vàng rơi thu mênh mông” ( Bích Khê) “ Thuyền ai đậu bến sông trăng đó_Có chở trăng về kịp tối nay” ( Hàn Mặc Tử) “ Mùa xuân là cả một mùa xanh” “ Hoa chanh nở giữa vườn chanh-Thầy u mình với chúng mình chân quê” ( Nguyễn Bính). . .

Với tiếng quê hương,ngôn ngữ dân tộc, người biên tập phát thanh cho kiều bào không chỉ cảm vẻ trong sáng, cái hay cái đẹp mà còn cần ý thức được rằng ngôn ngữ học  là một khoa học chuyên biệt. Bởi vậy ngoài phần có tính bình giảng gợi nhớ tình tự dân tộc thông qua tiếng nói, người làm báo phát thanh cần có “kiến văn” rộng mở hơn để viết những bài phân tích “kỹ” hơn theo phong cách tân văn báo chí, ngắn gọn,dễ hiểu, phổ thông-không phải là nghiên cứu chuyên sâu như người làm công việc ngôn ngữ học  về những biện pháp tu từ quen thuộc  của tiếng mẹ đẻ như tính tượng thanh tượng hình,tính ẩn dụ hoán dụ cùng những biến thái, biến nghĩa ,biến âm của tiếng Việt trong quá trình phát triển . . . vân vân để thấy rõ hơn ngôn ngữ dân tộc Việt cũng đầy đủ chức năng toàn diện chuyên chở tri thức cũng như đời sống tư tưởng tình cảm của con người như  mọi ngôn ngữ của một quốc gia văn minh có truyền thống văn hiến .

Người biên tập đặc biệt lưu tâm đến những biến thái phong phú của tiếng Việt và không ngần ngại đưa ra những giả thuyết về nét đặc sắc của phương ngôn, phương ngữ ,của  cách nói ở nhiều vùng miền. Ví như hai từ cổ “ đèo bòng” trong những câu thơ cổ “đôi ta chút nghĩa đèo bòng” ( Kiều ), “đa mang chi nữa đèo bòng” ( Cung Oán ngâm) . . .có thể thấy  “đèo” như là biến âm của động từ “đeo” , “bòng” nhứ là biến âm của động từ “bồng”. . . cũng như hai từ quá thông dụng  “vợ chồng’ thì như có người nghiên cứu  đã dẫn giải, vùng Thừa Thiên-Huế ngày xưa có nơi còn gọi “vợ” là bợ-trong nghĩa bợ đỡ. . .  Hiện tượng biến âm “bờ-vờ” tương tự như động từ   “bả” thành  “vả”; hay biến âm từ Cái sang nái,mái, gái. . .Như vậy,vừa là kiến thức ,vừa là tình tự dân tộc trong từng con chữ,câu chữ, người biên soạn hy vọng thính giả ở xa tổ quốc có thêm dịp hiểu và cảm rõ hơn tiếng quê hương

Với  thế hệ sinh sau đẻ muộn ở xứ người, người biên tập ý thức cần giới thiệu những phát  triển của ngôn ngữ trong quá trình hội nhập và giao lưu văn hóa hai chiều của tiếng Việt. Hàng loạt những từ mới trên cơ sở tiếp thu và sử dụng linh hoạt từ Hán Việt,từ của Pháp ngữ,Anh ngữ vân vân  để tiếng Việt có đầy đủ khả năng biểu đạt và hội nhập với đà phát triển của khoa học xã hội  ,của công nghệ thời hiện đại và hậu hiện đại. Tiếng Việt phong phú,đa dạng không chỉ nhờ vốn từ cổ tinh tế, giầu tính tượng hình tượng thanh đặc trưng lối  tư duy biểu cảm  của dân tộc mà còn  được bồi đắp trong quá trình giao lưu văn hóa với  các nước ,đặc biệt với  những ngôn ngữ do quan hệ lịch sử riêng biệt có mối tương giao lâu đời  như chữ Hán, chữ Pháp. Biểu hiện ngôn ngữ Việt hiện đại không có gì tiêu biểu hơn là  sự phát triển của văn học Việt hiện đại. Việc diễn giải ngôn ngữ   thơ của những tác giả tiêu biểu “thồ chữ ở xứ này lên” ( chữ Trần Dần) như Hàn Mặc Tử,Bích Khê,Xuân Diệu,Chế Lan Viên, Lê Đạt,Trần Dần . . .trong các chuyên mục bình thơ hay  “tiếng quê hương” là theo chiều hướng đó

Một trong những mối quan tâm hàng đầu của các nhà sư phạm,các bậc phụ huynh thế hệ thứ hai thứ ba sinh ra ở nước ngoài là  giữ gìn bản sắc Việt cho con cháu ngay trong đời sống gia đình,đời sống xã hội ,đời sống học đường  trong vòng vây áp lực của ngôn ngữ nước sở tại. Không ít gia đình đặt ra những quy tắc nghiêm ngặt ví như ngoài xã hội nói tiếng nước sở tại nhưng trong gia đình bắt buộc phải nói tiếng mẹ đẻ, chẳng hạn. Nhu cầu học tiếng Việt  như một sinh ngữ là nhu cầu  tự thân,bức thiết của cộng đồng người Việt ở nhiều nơi trên thế giới.Hơn ai hết người ở xa tổ quốc thế hệ ông cha  hiểu rằng  cuộc hội nhập của thế hệ cha anh vào guống máy lập thân lập nghiệp mưu sinh  đã nhiều áp lực,của con cháu họ cũng không dễ dàng gì.

Nếu không giữ được tiếng mẹ đẻ ở cấp độ tối thiểu, chắc chắn con cháu sẽ rời xa dần văn hóa dân tộc, rời xa dần bản sắc Việt .Đó là một nguy cơ  đã âm ỉ, đã  bùng phát ở một bộ phận không nhỏ thanh thiếu niên đó đây và còn  tiềm ẩn đấy đó trên khắp các châu lục. Về phương diện học tiếng Việt,tổ chức học tiếng Việt cho thế hệ thứ hai thứ ba ,cuốn sách  của tác giả Nguyễn Hưng Quốc-người có nhiều năm nghiên cứu phê bình văn học và giảng dạy Việt học  tại đại học ở Úc, nhan đề “Phương pháp dạy tiếng Việt như một ngôn ngữ thứ hai” đưa ra nhiều  kiến giải và thông tin bổ ích.Tác giả viết trong phần lời nói đầu có tính cách  đặt vấn đề  như  sau “ Ngôn ngữ thứ hai là ngôn ngữ được dạy ngay trong môi trường ngôn ngữ ấy được  sử dụng để học sinh, bước ra khỏi lớp, vẫn có thật nhiều cơ hội nghe thấy và vận dụng những gì mình đã học. . .

Riêng với trẻ em VN tại hải ngoại. . . mới ra đời phần lớn các em được bố mẹ,ông bà dạy tiếng Việt nhưng hầu như cùng một lúc các em lại nghe trên ti-vi,ra-di-o, ở nhà trẻ hoặc ngoài xã hội một ngôn ngữ khác, cái ngôn ngữ chính thức và chính thống của cả xã hội. Các em với mức độ khác nhau là những người song ngữ.. . .”. Như vậy với các em tiếng Việt không còn là ngôn ngữ thứ nhất ,duy nhất như trẻ VN ở VN,cũng không phải là. . . ngoại ngữ như người Anh,người Pháp học tiếng Việt , người Việt trong nước học tiếng Nga,tiếng Anh. . . .Đặc điểm đó quy định việc truyền dạy tiếng Việt cho thế hệ người Việt hậu sinh ở bất kỳ nơi nào trên thế giới cũng đòi hỏi các bậc phụ huynh các nhà giáo dục  đi theo một lộ trình truyền giảng có phần khác biệt . Người biên tập chuyên mục “Tiếng quê hương” dành cho thính giả ở xa tổ quốc không thể không biết đến thực tế đó của môi trường dạy tiếng Việt cụ thể  ở xứ người.

Đành rằng ngôn ngữ Việt không phải là một ngôn ngữ . . . lớn, thông dụng  được lựa chọn phổ biến trên thế giới như tiếng Anh, tiếng Pháp, hai cường quốc ngôn ngữ có hàng tỷ người trên toàn cầu  học và sử dụng hiện thời chẳng hạn. Thế nhưng theo tác giả cuốn sách “Phương pháp dạy tiếng Việt như một ngôn ngữ thứ hai”  thì ở Úc, tiếng Việt được chính thức công nhận là một ngôn ngữ ngoài tiếng Anh như mọi ngôn ngữ khác  trong hệ thống giáo dục các cấp. Từ tiểu học và trung học đến đại học, học sinh và sinh viên đều có thể học tiếng Việt, và giá trị của môn tiếng Việt được xem tương đương với mọi ngôn ngữ hay một môn học khác. Trong các cấp tiểu học và trung học, học sinh có thể chọn học tiếng Việt như một ngoại ngữ, trong các kỳ thi tốt nghiệp,học sinh có thể chọn thi môn tiếng Việt; ở bậc đại học,sinh viên có thể chọn tiếng Việt và Việt học là một chuyên ngành trong suốt chương trình cử nhân ba hay bốn năm. . .

Đương nhiên chưa phải ở quốc gia nào,tiếng Việt cũng được  trọng thị như ở Úc song người ta có quyền hy vọng với vị thế  VN ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế, với tài năng học vấn của người Việt các thế hệ thứ hai thứ ba ,văn hóa VN trong đó có ngôn ngữ Việt cũng sẽ dần dần được trọng thị tương xứng với người Việt ở khắp nơi trên thế giới. Kỳ vọng đó cũng khích lệ rất nhiều cho những người giới thiệu “tiếng quê hương” cho đồng bào mình “theo cánh sóng phát thanh”  ra bốn bể năm châu

Ngoảnh lại mấy mươi năm gắn bó với “Tiếng Quê Hương” trên sóng phát thanh, thật khó nói được gì nhiều hơn trong phạm vi một bài báo có tính tạp cảm,tạp luận gọi là “một mảnh hồi ức. . .” Đưa mắt nhìn tủ sách không lấy gì làm đồ sộ của người viết báo , ngoài những tác phẩm văn học  cổ kim là gần như không thiếu mấy những cuốn sách có tính “công cụ” để làm công việc này, trước hết là từ điển. Như từ điển tiếng Việt,từ điển Hán Việt,từ điển văn học, từ điển thành ngữ tục ngữ,từ điển tiếng Việt cổ. . . và không ít những cuốn sách  mang tính giáo trình như “tiếng lóng” như “từ đồng âm” như “từ láy”, như  “ngôn ngữ dẫn luận’ vân vân và vân vân. Người biên tập quan niệm muốn hiểu được tiếng Việt tiến tới truyền đạt “ vẻ trong sáng” của tiếng Việt thì trước hết phải có kiến văn rộng, kiến  thức phong phú về ngôn ngữ mẹ đẻ đã được nhiều thế hệ học giả,nhà nghiên cứu giảng dạy  ngôn ngữ văn chương đúc kết từ góc nhìn riêng ,kiến giải riêng của họ. Và trên hết là tình yêu với  tiếng  quê hương mà Lưu Quang Vũ đã cất lên lời trong thơ “ ôi tiếng Việt ngàn đời tôi mắc nợ-quên nỗi mình quên áo mặc cơm ăn”. Hay như người nhạc sĩ lão thành tài hoa Phạm Duy đã cất lên lời tình ca “tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời. . .” . / .

————

(*) Tên một ca khúc nổi tiếng của nhạc sĩ Phạm Duy