Tầm nhìn Việt Nam 2035 trong năm 2017

Tác giả: Nguyễn Quang Dy

KD: Tác giả Nguyễn Quang Dy vừa gửi cho Blog bản gốc của bài viết đã đăng trên tờ TBKTSG. Về tầm nhìn VN năm 2035 trong năm 2017, bàn về “báu vật”- con người và sự kiến tạo của CP mới. Xin đăng toàn bài để bạn đọc chia sẻ

—————-

canh_8Trong bài phú “Cư Trần Lạc Đạo” Phật Hoàng Trần Nhân Tông đã đúc kết một triết lý thiền tuy đơn giản nhưng đầy ý nghiã, “Trong nhà có của tìm đâu nữa, đối cảnh vô tâm hỏi chi thiền”. Trần Nhân Tông không nói thẳng như Albert Einstein “Có hai thứ vô hạn là vũ trụ và sự ngu dốt của con người…” mà nhẹ nhàng khuyên răn: trong nhà có báu vật mà không biết, thì đừng tìm đâu xa. (Phải chăng là do vô minh, vô cảm). 

Người ta hay nói nước ta “rừng vàng biển bạc”. Không sai. Nhưng tại sao đến bây giờ đất nước vẫn nghèo hèn lạc hậu, phải đi vay nợ như “chúa chổm”? Tại sao Việt Nam lại tụt hậu, thua kém cả những nước làng giềng trước đây vốn không bằng mình? Rừng vàng biển bạc sắp cạn kiệt, nhưng ngân sách thâm hụt chỉ đủ trả nợ công đến hạn, mà không còn tiền để đầu tư phát triển. Tình trạng nợ công đã đến mức báo động đỏ.

Cách đây 30 năm, Việt Nam cũng đứng trước một bước ngoặt lịch sử với câu hỏi “Đổi mới hay là chết!” Đó là thời điểm “đổi mới vòng một”. Còn bây giờ là thời điểm “đổi mới vòng hai” khi Việt Nam lại đang đứng trước một bước ngoặt mới bất định, với cùng một câu hỏi như trước. Hãy thử vận dụng triết lý của Trần Nhân Tông để xem trong nhà có báu vật gì mà ta chưa biết hoặc bỏ quên, để vận dụng “kiến tạo” quốc gia.

Báu vật bỏ quên

Thứ nhất, Việt Nam có một cái mỏ lộ thiên khổng lồ là “mỏ người” (gần 100 triệu dân). “Rừng vàng” bị phá gần hết, “Biển bạc” bị ô nhiễm. Tài nguyên thiên nhiên khai thác sắp cạn kiệt. Tiền viện trợ rồi cũng hết. Chỉ có tài nguyên con người là vô tận, nhưng “mỏ người” bị coi thường. Hệ thống giáo dục lạc hậu và trì trệ, càng cải cách càng tụt hậu, làm thui chột gần hai thế hệ. Nhân tài bị coi rẻ và vô hiệu hóa, đang bỏ ra nước ngoài hàng loạt (chảy máu chất xám). Thất thoát tài lực và nhân lực đang là một thảm họa. 

Israel là một đất nước nhỏ hơn ta nhiều, dân số cũng ít hơn ta nhiều, tài nguyên hầu như không có gì đáng kể, không được thiên nhiên ưu đãi, lại bị vây hãm bởi các nước láng giềng thù địch. Nhưng chỉ sau ba thập kỷ (từ 1948), Israel đã “khởi nghiệp” trở thành một cường quốc. Thu nhập bình quân đầu người hơn 35.000 USD (năm 2015). Phải chăng họ biết khai thác kho báu là “mỏ người” bằng cách khai phóng năng lượng sáng tạo của con người, là tài nguyên và tiềm năng lớn nhất của một dân tộc. Tại sao người Do Thái kéo về nước Israel, trong khi người Việt lại bỏ tổ quốc ra đi? Muốn khai thác “mỏ người” để có năng suất lao động cao, phải biết thu hút và trọng dụng nhân tài, và biết quản trị nguồn nhân lực.   

Thứ hai, Việt Nam có sẵn một “báu vật” trong nhà có thể vận dụng để khai thác “mỏ người”, nhằm kiến tạo lại quốc gia (trước khi quá muộn). Đó là “Báo Cáo Việt Nam 2035: Hướng tới Thịnh vượng, Sáng tạo, Công bằng và Dân chủ”, do Ngân hàng Thế giới (WB) và Bộ Kế hoạch Đầu tư (MPI) chủ trì, đã được phó thủ tướng Vũ Đức Đam và Chủ tịch Ngân hàng Thế giới Jim Yong Kim chính thức công bố tại Hà Nội (23/2/2016).

Tại sao lại gọi đó là “báu vật”? Bởi vì đó là một văn kiện quan trọng đề xuất kế hoạch đổi mới toàn diện đất nước, được Chính phủ Việt Nam và Ngân hàng Thế giới cam kết và đầu tư nhiều nguồn lực và chất xám trong gần 2 năm (từ 7/2014). Đây là Báo cáo được nghiên cứu và soạn thảo công phu nhất từ trước tới nay cho giai đoạn mới. Nguyên Bộ trưởng MPI Bùi Quang Vinh, cho biết, “Sau gần 2 năm Báo cáo đã được hoàn thành, gồm 7 chương nghiên cứu sâu về 3 trụ cột phát triển với 6 chuyển đổi lớn, đề xuất nhiều khuyến nghị quan trọng để đưa Việt Nam trở thành nước thu nhập trung bình cao vào năm 2035”.

Nếu “đổi mới vòng một” (từ 1986) chủ yếu là cải cách cơ cấu (kinh tế) thì “đổi mới vòng hai” (sau 2017) chủ yếu là cải cách thể chế (chính trị), nhằm giải phóng sức sản xuất và năng lượng sáng tạo của người Việt. Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, một thành viên tham gia soạn thảo nói: “Thông điệp quan trọng nhất, xuyên suốt khắp báo cáo đó là phải cải cách thể chế nếu không muốn bị lạc hậu. Đó là lý do báo cáo có một chương dành riêng nói về cải cách thể chế và các chương còn lại ít nhiều đều có đề cập đến vấn đề này”.

Tại Đại hội Đảng XII, Bộ trưởng Bùi Quang Vinh đã đề cập đến báo cáo này, nhưng đáng tiếc là đề xuất đó bị chìm đi, và bộ trưởng Vinh cũng nghỉ hưu. Nay chính phủ mới muốn “kiến tạo” thì chỉ còn một cách là phải vận dụng báo cáo “Việt Nam 2035”. Bà Phạm Chi Lan lập luận, “Nếu thiếu hoặc chậm tiến hành một cuộc cải cách thể chế mạnh mẽ vào lúc này thì sẽ không thể có được một chính phủ kiến tạo để dẫn dắt sự phát triển”.

Kiến tạo cái gì?

Để kiến tạo lại Việt Nam, “chính phủ kiến tạo” có nhiều việc phải làm, nhưng trước mắt nên tập trung ưu tiên cao cho “Ba vùng chiến lược”: Thứ nhất, phải cứu lấy Đồng bằng Nam Bộ là “vựa lúa của cả nước” (nay đang chết khô chết mặn). Thứ hai, phải cứu lấy Miền Trung là “khúc ruột của cả nước” (nay đang bị ô nhiễm và ngập lụt). Thứ ba, phải giải cứu Hà Nội là “trái tim của cả nước” (đang bị băm nát, bê tông hóa và ô nhiễm).

Để cứu Đồng bằng Nam Bộ, chính phủ có sẵn một “báu vật” không cần tìm đâu xa, có thể vận dụng để triển khai ngay tầm nhìn “Viêt Nam 2035”: đó là sáng kiến “Mekong Connect”. Đây là một mạng lưới liên kết vùng gồm 4 tỉnh ABCD Mekong (An Giang, Bến Tre, Cần Thơ, Đồng Tháp), dưới sự chỉ đạo của các lãnh đạo địa phương năng động, được sự hỗ trợ đắc lực của các tổ chức tư vấn kinh doanh phi lợi nhuận (LBC và BSA). “Mekong Connect” là mô hình “xã hội hóa” và “xã hội dân sự” điển hình, có thể nhân rộng ra toàn vùng và toàn quốc, theo tinh thần đổi mới, “hãy tự cứu mình trước khi trời cứu”.

Diễn đàn “Mekong Connect – CEO Forum 2016” tại Cần Thơ (26/10/2016) đã thu hút hơn 600 người tham gia, chủ yếu là doanh nhân, lãnh đạo địa phương và các chuyên gia (trong nước và ngoài nước). Đây là sự kiện thường niên lần thứ hai với chủ đề “Tìm Cơ Trong Nguy, nhằm đối phó với biến đổi khí hậu, vấn nạn môi trường, và thách thức hội nhập”. Đó là những vấn đề sống còn để cứu ĐBSCL khỏi thảm họa, trước những mối đe dọa của “thiên tai” (như biến đổi khí hậu gây hạn hán và ngập mặn) và “nhân họa” (như xây quá nhiều đập thủy điện làm cạn kiệt nguồn nước, và tư duy quản trị lỗi thời cản trở đổi mới).

Muốn cứu ĐBSCL, chính phủ cần vận dụng “Việt Nam 2035” để tái cấu trúc nông nghiệp theo hướng “hiện đại hóa, đa dạng hóa, thương mại hóa, và quốc tế hóa”. Muốn làm được điều đó, phải cải cách thể chế, xóa bỏ chính sách lỗi thời như “hạn điền” (theo luật đất đai dựa trên “sở hữu nhà nước” và “toàn dân”) trói buộc hàng triệu người dân ĐBSCL đang đối phó với thiên tai và nhân họa (mà “Mekong Connect” là một lời giải).       

Đó cũng là những vấn đề lớn đặt ra để cứu lấy Miền Trung và giải cứu Hà Nội, đang đối mặt với thảm họa môi trường do “thiên tai” và “nhân họa” gây ra. Chúng ta không thể chống lại biến đổi khí hậu, mà chỉ có thể tìm cách thích ứng. Nhưng chúng ta có thể tránh và phòng chống “nhân họa” nếu không vô minh và vô cảm. Muốn cứu Miền Trung, khôi phục môi trường và nghề cá, chính phủ phải “phi thép hóa” và “phi thủy điện hóa” (giống như “phi hạt nhân hóa”) là những “nhân họa” tiềm ẩn, do lợi ích nhóm thao túng. Hãy nói không với với Formosa và Tôn Hoa Sen Cà Ná, nếu họ không thực tâm bảo vệ môi trường.

Kiến tạo thế nào?

 

Muốn kiến tạo Việt Nam theo định hướng “Thịnh vượng, Sáng tạo, Công bằng và Dân chủ”, hy vọng chính phủ sẽ triển khai và vận dụng sáng tạo Tầm nhìn “Việt Nam 2035”, để thay đổi thể chế và năng lực lực quản trị, nhằm huy động các nguồn lực bên trong và bên ngoài, phục vụ cho các giải pháp đối nội và đối ngoại, như “ba mũi giáp công”:

Thứ nhất, về đối nội: cần cải cách thể chế toàn diện (cả kinh tế và chính trị tư tưởng). Về kinh tế, phải tái cơ cấu, chuyển đổi hẳn sang cơ chế thị trường, xóa bỏ cơ chế sở hữu ruộng đất “toàn dân” và độc quyền của doanh nghiệp nhà nước theo “định  hướng XHCN”. Về chính trị, phải dân chủ hóa, tôn trọng nhân quyền và xã hội công dân, cởi trói tư tưởng để tháo gỡ các ách tắc và bất cập do cơ chế lỗi thời làm cản trở đổi mới và sáng tạo trong kinh tế thị trường. Về tư tưởng, phải “phi ý thức hệ” để thoát trung, tránh lệ thuộc quá nhiều vào Trung Quốc về mọi mặt, tránh sa vào bẫy thu nhập trung bình và tụt hậu.   

Thứ hai, về đối ngoại: cần định hướng lại các mục tiêu chiến lược (với bên ngoài) trên cơ sở điều chỉnh những giá trị cốt lõi nhằm hỗ trợ đắc lực cho đổi mới thể chế (bên trong). Việt Nam phải “xoay trục” để thoát khỏi tình trạng “cân bằng tiêu cực”, thể hiện qua chính sách “3 không” và “đu dây” với các nước lớn để tồn tại. Chính sách đối ngoại trong giai đoạn mới cần dựa trên ba tiêu chí cốt lõi: (1) Tái cân bằng tích cực (active rebalance), (2) Hội nhập tích cực (proactive integration), (3) Độc lập tích cực (active independence).

“Tái cân bằng tích cực” không phải là “đu dây” và “thoát Trung” cũng không phải là quay lưng lại với Trung Quốc. Phải điều hòa giữa đối nội và đối ngoại, giữa lợi ích quốc gia và hội nhập quốc tế, để tránh lệ thuộc quá nhiều vào một nước. “Hội nhập tích cực” là phải chủ động hội nhập quốc tế để phục vụ chiến lược phát triển lâu dài, chứ không bị động đối phó để bảo hộ lợi ích trước mắt, là phải giúp doanh nghiệp hội nhập quốc tế, tham gia chuỗi giá trị và cung ứng toàn cầu (như Mekong Connect). “Độc lập tích cực” là phải đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, không bị ràng buộc vào ý thức hệ như cái “vòng kim cô”.

Thứ ba, về đoàn kết dân tộc: cần thực tâm hòa giải giữa hai cộng đồng để kết nối vòng tay lớn, nhằm huy động nguồn lực của cả dân tộc, để tái tạo/kiến tạo quốc gia. Đây là một mục tiêu sống còn, nhưng rất khó. Đã hơn 40 năm sau chiến tranh Việt Nam mà hai cộng đồng người Việt vẫn chưa hòa giải được với nhau là điều bất bình thường.

Bài học đối ngoại

Chính sách đối ngoại của Việt Nam giai đoạn trước dựa trên bốn trụ cột: (1) độc lập tự chủ (trong đó có chính sách “3 không”), (2) đa phương đa dạng hóa (trong đó có chủ trương “thêm bạn bớt thù”), (3) vừa hợp tác vừa đấu tranh (trong đó có “đối tác hợp tác” và “đối tượng đấu tranh”), (4) chủ động và tích cực hội nhập quốc tế (để trở thành “đối tác tin cậy” của cộng đồng quốc tế). Bốn trụ cột đó về cơ bản là đúng (về lý thuyết), nhưng không đủ (trước thực tế mới) để giúp Việt Nam thoát hiểm và phát triển bền vững.

Vì vậy Việt Nam đã “đu dây” quá lâu (suốt tám năm), nên không tranh thủ được cơ hội “xoay trục” dưới thời Tổng thống Obama để nâng cấp quan hệ thành “đối tác chiến lược”. Chuyến thăm Mỹ chính thức của CTN Trương Tấn Sang (7/2013) và TBT Nguyễn Phú trọng (7/2015) cũng như chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Obama (5/2016) là những mốc quan trọng để xây dựng quan hệ “đối tác toàn diện” và “tầm nhìn chung Mỹ-Việt” về an ninh quốc phòng, nhưng vẫn chưa đủ để Việt Nam và Mỹ trở thành “đối tác chiến lược”. Theo Alexander Vuving, “Việt Nam tiếp tục tách xa dần (nhưng không quá xa) Trung Quốc, và tiếp tục xích lại gần (nhưng không quá gần) Mỹ, sợ làm Trung Quốc tức giận”. 

Trong bối cảnh Donald Trump quyết định rút khỏi TPP, thì hai hợp đồng giữa PetroVietnam và Exxon-Mobil về mỏ khí “Cá voi xanh” tại Biển Đông không chỉ quan trọng về kinh tế, mà còn có ý nghĩa to lớn về chiến lược. Tuy vai trò đối trọng của Mỹ trong tam giác Mỹ-Trung-Việt là cốt yếu, nhưng lại bị ảnh hưởng nhiều bởi biến động chính trị nội bộ Mỹ, nên Việt Nam phải tăng cường đối tác chiến lược với Nhật để “đề phòng” (hedging) bằng một tứ giác chiến lược mới tại Đông Á do Nhật dẫn đầu (“Japan-Australia-India-Vietnam Partnership”), và mở rộng hợp tác chiến lược ra ngoài khuôn khổ ASEAN. Chuyến thăm Việt Nam của thủ tướng Abe (16/1/2017) là một dấu hiệu tích cực đúng hướng.  

Thay lời kết

Chính sách đối ngoại tuy là cánh tay kéo dài của chính sách đối nội, nhưng có nhiệm vụ làm đòn bẩy, hỗ trợ cho quá trình “đổi mới vòng 2” để Việt Nam phát triển theo hướng “Thịnh vượng, Sáng tạo, Công bằng và Dân chủ”.  Đề cương chính sách đối ngoại cho giai đoan mới phải dựa trên chiến lược phát triển quốc gia. Đó chính là Báo cáo “Việt Nam 2035”, một đề cương đổi mới toàn diện thật đúng lúc và đúng hướng. Muốn đổi mới toàn diện để phát triển bền vững, phải gắn kết được trên với dưới, bên trong với bên ngoài, để huy động tối đa nguồn lực của dân tộc, nhằm kiến tạo một nước Việt Nam đổi mới.

NQD. 4/2/2017