Vụ án hoa hậu đại gia Nga – Mỹ: Bản “hợp đồng tình ái” trị giá 16,5 tỷ đồng là có thật?

Tác giả: Ls Trần Hồng Phong

.LS Trần Hồng Phong: Bản thân tôi, dù đã tham gia bào chữa và dự khán rất nhiều vụ án hình sự, chưa bao giờ thấy bị cáo là thể hiện và thực hiện quyền im lặng như Nga. Mặc dù là luật sư vẫn thường dặn dò bị cáo là có thể trả lời, hoặc không trả lời câu hỏi này, hay câu hỏi khác, nhưng có lẽ chưa luật sư nào dặn thân chủ của mình không trả lời một cách “tuyệt đối” như vậy. Qua tình huống này, thực sự là một điểm sáng đáng lưu ý trong lịch sử tố tụng hình sự Việt Nam. Thể hiện được rằng bị cáo không những có quyền mà còn có thể thực hiện được quyền im lặng ngay tại phiên toà xét xử mà không sao cả. Thể hiện được rằng cơ quan công tố (Viện kiểm sát) dù không muốn cũng phải bất lực trong xét hỏi, thừa nhận quyền im lặng của bị cáo. Thể hiện Hội đồng xét xử tôn trọng, đứng về phía bị cáo trong việc thực thi “quyền im lặng”.

Việc bị cáo Nga nói “tôi không tin vào cơ quan điều tra, Viện kiểm sát” ngay tại phiên toà quả thật là một “cái tát” chưa từng có vào uy tín, danh dự của các cơ quan tiến hành tố tụng tại Việt Nam. Thế mà khi nghe xong cả hai kiểm sát viên đều không phản ứng lại. Thật bẽ bàng cho họ!

.KD: Đọc bài viết này, tuy chưa kết thúc, của Ls Trần Hồng Phong, mới thấy rằng, những tiêu cực của tư pháp có lẽ cũng chỉ là “phần nổi của tảng băng trôi”. Một Xh có biết bao vụ án, liệu phần nổi tảng băng trôi này nó…. trôi kinh khủng như thế nào.

——————-   


Mấy ngày qua, dư luận trên mạng xã hội đang phát sốt về những thông tin “hấp dẫn” liên quan đến phiên toà xét xử sơ thẩm (lần 2, sau khi trả hồ sơ điều tra bổ sung) vụ án đại gia Cao Toàn Mỹ tố cáo hoa hậu Trương Hồ Phương Nga lừa đảo, chiếm đoạt số tiền lên tới 16,5 tỷ đồng, thông qua hình thức mua dùm giá rẻ một căn nhà tại quận 5 TP. HCM. Tuy nhiên bị cáo Nga cho rằng số tiền đó là thực hiện theo một hợp đồng tình ái giữa hai bên chứ không phải lừa đảo. Sự thật đang dần sáng tỏ, đồng thời cũng xuất hiện nhiều điều bất thường liên quan đến quá trình điều tra và nhân chứng “đặc biệt” Nguyễn Mai Phương. Tuy nhiên điều quan trọng hơn, là nếu thực sự có một “hợp đồng tình ái” giữa Nga – Mỹ, thì giao dịch này có vi phạm pháp luật không? có được toà công nhận không? và việc giải quyết hậu quả như thế nào?

Bị cáo Trương Hồ Phương Nga tại phiên toà sơ thẩm ngày 26/6/2017. Người áo trắng mờ phía xa là “bị hại” Cao Toàn Mỹ. Mối quan hệ giữa họ là “hợp đồng tình cảm” hay “lừa đảo”? (ảnh Tâm Lụa – báo Tuổi Trẻ)

(Ghi chú: để gọn hơn, sau đây xin được viết tắt ông Cao Toàn Mỹ là “Mỹ”, hoa hậu Phương Nga là “Nga”) Nội dung vụ án tóm lược như sau:

Trước hết, việc ông Mỹ chuyển số tiền 16,5 tỷ đồng cho Nga là có thật, hai bên đều thừa nhận và diễn ra đến cuối năm 2013 thì kết thúc.

Đến tháng 4-2014, ông Mỹ lần đầu tiên có đơn tố cáo Nga gửi đến cơ quan công an. Nội dung đơn lúc này là đòi tiền cho vay, nhưng Nga không chịu trả.

Sau đó, tháng 8-2014 ông Mỹ có đơn tố cáo lần thứ hai. Nội dung chuyển thành tố cáo Nga có hành vi lừa đảo, chiếm đoạt số tiền 16,5 tỷ đồng, thông qua việc Mỹ chuyển tiền nhờ Nga mua nhà giá rẻ, nhưng Nga không mua mà chiếm luôn số tiền này.

Cơ quan điều tra công an TP.HCM đã khởi tố vụ án, khởi tố và bắt tạm giam Nga để tiến hành điều tra và có bản Kết luận điều tra.

Tiếp đó, Viện kiểm sát nhân dân TP.HCM ra Cáo trạng, truy tố Nga về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản – theo quy định tại Điều 139 Bộ luật hình sự (năm 1999).

Tháng 9/2016, TAND TP.HCM đã đưa vụ án này ra xét xử sơ thẩm (lần đầu).

Tại phiên toà, về cơ bản Nga không thừa nhận quy kết nêu trong Cáo Trạng, mà cho rằng việc Mỹ chuyển tiền cho mình là thực hiện theo một bản “hợp đồng tình ái” giữa hai bên. Đây là thông tin khá bất ngờ và MỚI – so với hồ sơ vụ án tại thời điểm này.

Nga cũng nói rằng giữa mình và Mỹ có mối quan hệ tình cảm với nhau (ghi chú: Mỹ đã có vợ, con).

Trong vụ án này, một người bạn của hoa hậu là bà Nguyễn Đức Thùy Dung, cùng bị truy tố với vai trò là “đồng phạm” giúp sức cho Nga. Bà Dung khai biết rõ mối quan hệ tình cảm giữa ông Mỹ và Phương Nga là có thật.

Trước những thông tin mới và chưa được làm rõ, Toà đã trả hồ sơ để CQĐT điều tra làm rõ có hay không “hợp đồng tình cảm” giữa Nga và Mỹ? Bản chất số tiền 16,5 tỷ đồng là gì? Nga có thực hiện hành vi lừa đảo hay không?

Sau quá trình điều tra bổ sung, VKSND TP.HCM một lần nữa tiếp tục truy tố Nga về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Hay nói khác đi, quan điểm của cơ quan công tố là không thay đổi sau khi có kết quả điều tra bổ sung. Đồng nghĩa với việc KHÔNG THỪA NHẬN CÓ MỘT HỢP ĐỒNG TÌNH ÁI giữa Nga – Mỹ.

Từ ngày 23/6/2017 vừa qua, tới nay, phiên toà sơ thẩm (lần 2) vụ án này vẫn đang diễn ra, thu hút sự quan tâm của rất nhiều người. Báo chí đăng tải tràn ngập, mạng xã hội tràn ngập “mối tình” Nga – Mỹ, lấn án hầu hết những sự kiện chính trị – xã hội khác.

Diễn biến phiên toà sơ thẩm lần 2 (tháng 6/2017) tóm lược như sau:

– Luật sư của Nga công bố hai bản khai HOÀN TOÀN GIỐNG NHAU của Nga và Mỹ tại cơ quan điều tra. Và cho rằng điều này thể hiện sự BẤT THƯỜNG.

– Trong ngày xét hỏi đầu tiên, Nga cương quyết IM LẶNG, KHÔNG TRẢ LỜI BẤT KỲ CÂU HỎI NÀO của công tố viên và cả luật sư. Bị cáo cho rằng mình thực hiện QUYỀN IM LẶNG. Và sở dĩ như vậy là vì KHÔNG TIN vào công an, kiểm sát viên nữa. Bị cáo Nga cho rằng mình bị công an “gài bẫy” trong quá trình điều tra, lấy lời khai.

– Mỹ không thừa nhận có quan hệ tình cảm với Nga. Không nhớ rõ về 17 lần xuất ngoại cùng Nga, cũng như các ch tiết liên quan đến căn nhà, giấy tờ mua nhà … (căn nhà mà Mỹ nhờ Nga mua giá rẻ).

–  Ông Nguyễn Văn Yên (nhân chứng, người có quyền và nghĩa vụ liên quan) khai rằng những giấy tờ mua nhà là giả, do Nga nhờ làm và chỉ mới làm từ năm 2015. (Trong khi việc “mua nhà” – theo đơn tố cáo của Mỹ – diễn ra từ năm 2013. Như vậy toàn bộ hồ sơ liên quan đều được thực hiện sau thời điểm việc thực hiện mua bán nhà.

– Trong vụ án còn có hai nhân chứng quan trọng là ông Lữ Minh Nghĩa (bạn trai cũ của bà Dung) và một người khác tên là Nguyễn Mai Phương – là những người biết rõ về việc “mua nhà” (dù là có thật hay không có).

– Tuy nhiên, qua tới ngày xét xử 26/6/2017 thì Nga đã không im lặng nữa, mà đồng ý trả lời một số câu hỏi của Toà, Viện. Theo đó, Nga khai rằng cả 17 lần xuất ngoại đều đi với Mỹ và hai người ở chung một phòng. Tiền phòng, tiền vé máy bay đều do Mỹ trả.

– Bất ngờ hơn, Nga cho rằng tất cả các chứng cứ mà viện kiểm sát dùng để buộc tội bị cáo đều là do bị cáo làm theo sự sắp đặt của bà Nguyễn Mai Phương. “Khi nghe tin anh Mỹ tố cáo bị cáo, chị Phương bảo cứ làm theo những gì chị hướng dẫn thì sẽ có các sếp ở công an lo cho…”. 

Theo lời Nga, bị cáo đã nghe theo lời xúi giục của bà Nguyễn Mai Phương làm giả giấy biên nhận mua nhà dùm ông Mỹ là để hợp thức hóa việc nhận tiền. Các thỏa thuận viết tay đều do Nga viết lại theo tin nhắn mà Mai Phương đã nhắn qua viber, bà Mai Phương cũng soạn sẵn các giấy trả lại tiền do mua bán nhà không thành và bảo Phương Nga ký vào. Khi Cao Toàn Mỹ tố cáo, bà Phương nói với Nga các thứ như hợp đồng tình cảm, tin nhắn tình cảm giữa bị cáo và Cao Toàn Mỹ phải huỷ hết, vì vậy bị cáo đã xóa tất cả.

Thế nhưng, cũng trong ngày 26/6/2017, mặc dù không có mặt tại phiên toà theo giấy triệu tập, nhưng nhân chứng Mai Phương lại “đăng đàn” trên một tờ báo, cho biết những điều Nga nói là không đúng và “ngày mai tôi sẽ nộp đơn kiện Nga về hành vi vu khống”.

– Trước tình huống mới từ lời khai của Nga, và trong 3 ngày xét xử vừa qua, tuy nhiều lần các bị cáo và người liên quan có khai về vai trò của bà Nguyễn Mai Phương trong vụ án, nhưng bà Phương vắng mặt, nên Hội đồng xét xử đã ký giấy triệu tập và yêu cầu công an áp giải nhân chứng này đến tòa để xét hỏi.

Trong một diễn biến liên quan, có tin vợ ông Cao Toàn Mỹ đã nộp đơn ly hôn với chồng, đề nghị Toà chia đôi tài sản (chưa xác tín).

Chúng tôi sẽ cập nhật những diễn biến tiếp theo.

…………

Bình luận của luật sư Trần Hồng Phong:

1. Trước hết, do đây là vụ án hội đủ các yếu tố hấp dẫn “đại gia”, “hoa hậu”, “tiền, tình, tù tội” … – nên quá hot. Trên mạng xã hội, mọi người bàn luận xôn xao. Tuy nhiên xu hướng chung là có vẻ “thương”, cảm thông cho hoa hậu, đồng thời “chửi” bị hại Cao Toàn Mỹ không tiếc lời. Đại để là theo quan niệm á đông, đàn ông đã “ăn bánh” thì phải “trả tiền”, “có tiền cho gái có đòi được không”? …vv. Hay nói khác đi, số đông cho rằng một bản hợp đồng tình ái giữa hai bên là có thật.

2. Xét về phương diện đạo đức xã hội, một điều không thể né tránh, theo tôi bất luận kết quả xét xử, sự thật như thế nào, thì cả hai bên Nga – Mỹ đều không có gì hay ho. Nếu không muốn nói là rất đáng trách. Vì một bên đang có vợ con mà lại đi quan hệ “ngoài luồng” ở mức độ “nghiêm trọng” như vậy. Một bên là hoa hậu, tài năng xinh đẹp, lại chấp nhận đi bán “vốn quý” của mình vì tiền, chấp nhận sống và “yêu” trong “bóng tối” vì tiền thì cũng thật khó mà thông cảm được.

3. Tuy nhiên, xét về mặt pháp luật, về sự công bằng, khách quan trong điều tra, truy tố và xét xử, thì cần phải bảo đảm quyền lợi hợp pháp của các bên. Phải làm sáng tỏ sự thật khách quan, tuyệt đối không để oan, sai cho bị cáo Nga. 

4. Việc Nga thực hiện “quyền im lặng” một cách sắc sảo, bản lĩnh trong ngày xét hỏi đầu tiên có lẽ là một trong những điều gây ấn tượng nhất, kể cả trong giới luật sư. Thật ấn tượng và sung sướng, khi ngay tại phiên toà, bị cáo nói thẳng vào mặt công tố viên “chứng minh tội phạm là nghĩa vụ của cơ quan tiến hành tố tụng. Bị cáo không có nghĩa vụ chứng minh mình bị oan”. Đây là một câu “kinh điển” trong luật hình sự.

Bản thân tôi, dù đã tham gia bào chữa và dự khán rất nhiều vụ án hình sự, chưa bao giờ thấy bị cáo là thể hiện và thực hiện quyền im lặng như Nga. Mặc dù là luật sư vẫn thường dặn dò bị cáo là có thể trả lời, hoặc không trả lời câu hỏi này, hay câu hỏi khác, nhưng có lẽ chưa luật sư nào dặn thân chủ của mình không trả lời một cách “tuyệt đối” như vậy. Qua tình huống này, thực sự là một điểm sáng đáng lưu ý trong lịch sử tố tụng hình sự Việt Nam. Thể hiện được rằng bị cáo không những có quyền mà còn có thể thực hiện được quyền im lặng ngay tại phiên toà xét xử mà không sao cả. Thể hiện được rằng cơ quan công tố (Viện kiểm sát) dù không muốn cũng phải bất lực trong xét hỏi, thừa nhận quyền im lặng của bị cáo. Thể hiện Hội đồng xét xử tôn trọng, đứng về phía bị cáo trong việc thực thi “quyền im lặng”.

Việc bị cáo Nga nói “tôi không tin vào cơ quan điều tra, Viện kiểm sát” ngay tại phiên toà quả thật là một “cái tát” chưa từng có vào uy tín, danh dự của các cơ quan tiến hành tố tụng tại Việt Nam. Thế mà khi nghe xong cả hai kiểm sát viên đều không phản ứng lại. Thật bẽ bàng cho họ. 

5. Tuy nhiên, xét về mặt tố tụng hình sự, cần lưu ý im lặng là quyền chứ không phải nghĩa vụ của bị can, bị cáo. Do là quyền, cho nên cần cân nhắc, sử dụng sao cho hợp lý nhất, đạt được hiệu quả cao nhất. Hoàn toàn không có nghĩa lúc nào cũng “im lặng” là có lợi. Vì sao? Vì việc chứng minh một vấn đề/quan điểm nào đó, kể cả đối với bị cáo hay bất kỳ ai, đều phải thông qua chứng cứ. Một trong những hình thức của chứng cứ là “lời khai”, lời trình bày. Do vậy, nếu bị cáo nêu ra quan điểm, là oan chẳng hạn, nhưng lại không nói, tức là không đưa ra lời khai – chứng cứ, thì Hội đồng xét xử sẽ không có đủ cơ sở để đưa ra kết luận, đánh giá, từ đó xét xử theo hướng có kết quả tốt cho bị cáo. (Tất nhiên là trong một vụ án còn có rất nhiều nguồn chứng cứ khác, như tài liệu giấy tờ, lời khai nhân chứng …vv. Nhưng lời khai của bị cáo cũng rất quan trọng, nhất là khi có ý nghĩa lý giải, giải thích và phù hợp với những chứng cứ khác).

6. Một trong những điều gay cấn nhất, dư luận quan tâm nhất, là CÓ hay KHÔNG một bản hợp đồng tình ái trị giá lên tới 16,5 tỷ đồng giữa hai người – theo như lời khai của Nga. Nếu có, thì việc này, hay nói chính xác hơn là “giao dịch”/”hợp đồng” này có được pháp luật thừa nhận không? Có giá trị ràng buộc giữa hai bên không? Nếu có, và cả không – thì việc giải quyết hậu quả trong bối cảnh hiện nay như thế nào? sẽ ảnh hưởng như thế nào đến kết quả xét xử?

Trước khi bình luận về vấn đề này, tôi muốn lưu ý một số điểm cần lưu ý như sau:

– Một là, tại Việt Nam chưa bao giờ thừa nhận hành vi mua bán dâm. Quan hệ mua bán dâm là bất hợp pháp, nhưng không bị xem là hành vi phạm tội. Tuy nhiên người thực hiện hành vi môi giới hay tổ chức mua bán dâm bị xem là hành vi phạm tội. 

– Hai là, pháp luật không cấm những hợp đồng hay thoả thuận tình cảm. Không cấm việc người này cho, tặng tài sản đối với người kia vì lý do tình cảm. Hay thậm chí là bất kỳ lý do nào, không cần nêu ra.

– Ba là, …

còn tiếp, vui lòng chờ bổ sung 
…….

Quy định tại Bộ luật hình sự (năm 1999)

Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Tái phạm nguy hiểm;
d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;
g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;
b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;
b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 55. Người làm chứng

1. Người nào biết được những tình tiết liên quan đến vụ án đều có thể được triệu tập đến làm chứng.

2. Những người sau đây không được làm chứng:

a) Người bào chữa của bị can, bị cáo;
b) Người do có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà không có khả năng nhận thức được những tình tiết của vụ án hoặc không có khả năng khai báo đúng đắn.

3. Người làm chứng có quyền:

a) Yêu cầu cơ quan triệu tập họ bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình khi tham gia tố tụng;
b) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
c) Được cơ quan triệu tập thanh toán chi phí đi lại và những chi phí khác theo quy định của pháp luật.

4. Người làm chứng có nghĩa vụ:

a) Có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án; trong trường hợp cố ý không đến mà không có lý do chính đáng và việc vắng mặt của họ gây trở ngại cho việc điều tra, truy tố, xét xử thì có thể bị dẫn giải;
b) Khai trung thực tất cả những tình tiết mà mình biết về vụ án.
Người làm chứng từ chối hoặc trốn tránh việc khai báo mà không có lý do chính đáng, thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 308 của Bộ luật hình sự; khai báo gian dối thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 307 của Bộ luật hình sự.

————– 
…..